Trang

Nhãn

Hiển thị các bài đăng có nhãn LỜI CHÚA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LỜI CHÚA. Hiển thị tất cả bài đăng

15 tháng 12 2013

Chúa Nhật Tuần III Mùa Vọng Năm A


 GỢI Ý SUY NIỆM CỦA PETER LÊ

Chúa Nhật Tuần III Mùa Vọng Năm A - Thầy Có Phải Là Ðấng Phải Ðến Không?

Bài Ðọc I: Is 35, 1-6a. 10

"Chính Thiên Chúa sẽ đến và cứu độ chúng tôi".


Trích sách Tiên tri Isaia.

Nơi hoang địa cằn cỗi sẽ vui mừng, cõi tịch liêu sẽ hân hoan, và nở bông dường như khóm huệ, sẽ nảy chồi non và hoan hỉ vui mừng, và khen ngợi rằng: Ðã ban cho Israel được vinh quang của xứ Liban, huy hoàng của Carmel và Saron. Chính chúng sẽ nhìn thấy vinh quang của Chúa, và huy hoàng của Thiên Chúa chúng ta.

Hãy làm cho mạnh mẽ những bàn tay rời rã, và hãy làm cho tăng sức những đầu gối mỏi mòn. Phải nói cho những người nhát đảm rằng: Hãy can đảm lên, đừng sợ hãi! Kìa Thiên Chúa các ngươi sẽ đem lại điều báo ứng; chính Thiên Chúa sẽ đến và cứu độ các ngươi.

Bấy giờ mắt người mù sẽ nhìn thấy, và tai những người điếc sẽ được nghe. Bấy giờ người què sẽ nhảy nhót như nai, những người được Chúa cứu chuộc, sẽ trở về, và đến Sion với lời khen ngợi; và trên đầu họ mang hoan hỉ triền miên, họ sẽ được vui mừng khoái trá, họ sẽ không còn đau buồn; rên siết sẽ trốn xa.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 145, 7. 8-9a. 9bc-10

Ðáp: Lạy Chúa, xin đến cứu độ chúng con (x. Is 35, 4).

Xướng: 1) Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị áp bức, và ban cho những kẻ đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội. - Ðáp.

2) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù; Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục. Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân; Thiên Chúa che chở những khách kiều cư. - Ðáp.

3) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường nẻo đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời. Sion hỡi, Ðức Thiên Chúa của ngươi sẽ làm vua tự đời này sang đời khác. - Ðáp.

Bài Ðọc II: Gc 5, 7-10

"Hãy vững lòng, vì Chúa gần đến".

Trích thư Thánh Giacôbê Tông đồ.

Anh em hãy kiên nhẫn chờ ngày Chúa đến. Kìa xem người nông phu trông đợi hoa màu quý báu của đồng ruộng, kiên nhẫn đợi chờ mưa xuân và mưa thu. Vậy anh em hãy bền chí và vững tâm, vì Chúa đã gần đến. Anh em đừng kêu trách lẫn nhau, để khỏi phải bị kết án. Này đây quan toà đã đứng trước cửa. Anh em hãy học gương kiên nhẫn và chịu đựng trong gian khổ của các tiên tri, là những người đã nói nhân danh Chúa.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Is 61, 1 (x. Lc 4, 12)

Alleluia, alleluia! - Thánh Thần Chúa ngự trên tôi. Người đã sai tôi đem tin mừng cho người nghèo khó. - Alleluia.



Phúc Âm: Mt 11, 2-11

"Thầy có phải là Ðấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi một Ðấng nào khác?"

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Gioan ở trong ngục nghe nói về các việc làm của Chúa Kitô. Ông sai môn đệ đến thưa Ngài rằng: "Thầy có phải là Ðấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Ðấng nào khác?" Chúa Giêsu bảo họ: "Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ông nghe và thấy: người mù được thấy, người què đi được, người phong hủi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại, và tin mừng được loan báo cho kẻ nghèo khó; và phúc cho ai không vấp ngã vì Ta".

Khi những người được sai đến đã đi rồi, Chúa Giêsu liền nói với đám đông về Gioan rằng: "Các ngươi đi xem gì ở hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió ư? Vậy các ngươi đi xem gì? Một người ăn mặc lả lướt ư? Nhưng những người ăn mặc lả lướt thì ở nơi cung điện nhà vua. Vậy các ngươi đi xem gì? Một tiên tri ư? Phải, Ta bảo các ngươi, và còn hơn một tiên tri nữa. Vì có lời chép về ông rằng: "Này Ta sai sứ thần Ta đi trước mặt con, để dọn đường sẵn cho con". Ta bảo thật các ngươi, trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả; nhưng người nhỏ nhất trong nước trời còn cao trọng hơn ông".
Ðó là lời Chúa.

Gợi ý Suy niệm (sưu Ttầm từ tinmung.net)


Thầy Có Phải Là Ðấng Phải Ðến Không?

(Is 35,1-6.10; Gc 5,7-10; Mt 11,2-11)

- Dẫn vào Thánh Lễ:

Hôm nay là Chúa Nhật 3 Mùa Vọng. Chúng ta vui mừng vì gần ngày Chúa đến cứu rỗi chúng ta.

Thật sự Chúa đã đến rồi. Chúa đã đến cách đây hơn 2,000 năm khi sinh xuống làm người tại Bêlem. Nhưng cho đến nay, vẫn còn nhiều người chưa nhận ra được Chúa. Chính vì thế, mỗi năm khi đến Mùa Vọng, Hội Thánh thôi thúc chúng ta dọn đường cho Chúa đến với chúng ta và tất cả mọi người.

Chúng ta hiệp dâng Thánh Lễ. Xin cho chúng ta biết lo dọn đường cho Chúa đến trong tâm hồn chúng ta và anh chị em chúng ta.

- Dẫn vào bài đọc 1: Is 35,1-6.10


Ngôn sứ Isaia mời gọi mọi người hân hoan phấn khởi, vì Chúa sắp đến cứu khỏi mọi khốn khổ phần hồn phần xác. Ðó là ý nghĩa bài đọc sau đây.

- Dẫn vào bài đọc 2: Gc 5,7-10

Trong đoạn thư sau đây, thánh Giacôbê tông đồ khuyên dân Chúa chớ chán nản, một hãy kiên tâm chờ Chúa đến, như nhà nông kiên tâm mong chờ đất trổ sinh bông trái.

- Dẫn vào bài Tin Mừng: Mt 11,2-11


Thánh Gioan Tiền Hô sai môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu có phải là Ðấng Cứu Thế muôn dân đang đợi không. Chúa lấy việc làm của Người minh chứng Người là Ðấng Cứu Thế. Ðó là Người trả lời cách gián tiếp cho thánh Gioan và cũng là nội dung Tin Mừng hôm nay.

- Cầu nguyện cho mọi người:

Chúa sắp đến cứu độ chúng ta, chúng ta hân hoan đón rước Chúa và tha thiết cầu nguyện.

1. Hội Thánh có sứ mạng rao giảng Tin Mừng cứu độ, đem nguồn an vui đích thực đến cho mọi người. Xin cho lời rao giảng của Hội Thánh được nhiều người chấp nhận.

2. Ơn cứu độ của Chúa là giải thoát con người khỏi lầm than khốn khổ phần hồn phần xác. Xin cho mọi người thành tâm sám hối tội lỗi và kiên tâm bền chí chờ đợi Chúa đến.

3. Chúa Giêsu là Ðấng Thiên Sai, là Ðấng cứu độ duy nhất của loài người. Xin cho mọi người hết lòng tin kính để được hưởng nhờ ơn cứu độ.

4. Chúa Giêsu nhìn nhận thánh Gioan Tiền Hô là cao trọng hơn hết, vì thánh nhân đã hy sinh dọn đường cho Chúa. Xin cho cộng đoàn chúng ta biết hy sinh dọn đường cho Chúa đến cứu độ mọi người.

Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Ðấng Thiên Sai, là Ðấng Cứu Ðộ duy nhất của loài người. Xin cho mọi người biết tin kính Chúa, để được hưởng nhờ ơn cứu rỗi của Chúa.

24 tháng 11 2013

Lời Chúa Chúa Nhật Tuần XXXIV Thường Niên Năm C.

Phân tích và Chia sẻ - Nguyễn Viết Tâm
(24/11/2013) - (Lc 23, 35-43)
ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ VUA VŨ TRỤ

Nguyên văn Bài Tin mừng:

Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!”

Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: “Nếu ông là vua dân Do-thái thì cứu lấy mình đi!”

Phía trên đầu Người, có bản án viết: “Đây là vua người Do-thái.”

17 tháng 11 2013

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM - 17.11.2013



BÀI ĐỌC I: Kn 3, 1-9
"Chúa chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu".
Trích sách Khôn Ngoan.
Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa, và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài. Đối với con mắt của người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt. Nhưng thật ra các ngài sống trong bình an. Và trước mặt người đời, dầu các ngài có chịu khổ hình, lòng trông cậy của các ngài cũng không chết. Sau một giây lát chịu khổ nhục, các ngài sẽ được vinh dự lớn lao; vì Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa, và chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu.

27 tháng 10 2013

Chúa Nhật XXX Thường Niên - Năm C

SUY NIỆM CỦA PETER LÊ

BÀI ĐỌC I: Hc 35, 15b-17. 20-22a (Hl 12-14. 16-18)

"Lời cầu nguyện của người khiêm nhường vọng lên tới các tầng mây".

Trích sách Huấn Ca.

Chúa là quan án, Người không xem sao vinh quang loài người. Chúa không vì nể kẻ nghịch với người nghèo khó, và Người nhậm lời kẻ bị áp bức kêu cầu. Người không khinh rẻ kẻ mồ côi khẩn nguyện, cũng không khinh rẻ người goá bụa, khi nó bày tỏ lời than van.

Nỗi hồn đắng cay, của lễ được nhận, và tiếng kêu oan kíp thấu tầng mây. Lời cầu nguyện của kẻ khiêm nhường vọng lên tới các tầng mây: nó sẽ không yên lòng cho đến khi lời nguyện nó đến nơi, và nó chẳng rút lui cho đến khi Đấng Tối Cao đoái nhìn. Chúa sẽ không trì hoãn, Người sẽ xét đoán những người công chính và sẽ ra lời phán quyết.
Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 33, 2-3. 17-18. 19 và 28

Đáp: Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe (c. 7a).

Xướng: 1) Tôi chúc tụng Thiên Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Thiên Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. - Đáp.

2) Thiên Chúa ra mặt chống người làm ác, để tẩy trừ di tích chúng nơi trần ai. Người hiền đức kêu cầu và Chúa nghe lời họ, Người cứu họ khỏi mọi nỗi âu lo. - Đáp.

3) Thiên Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương giập nát. Thiên Chúa cứu chữa linh hồn tôi tớ của Người, và phàm ai tìm đến nương tựa nơi Người, người đó sẽ không phải đền bồi tội lỗi. - Đáp.

BÀI ĐỌC II: 2 Tm 4, 6-8. 16-18

"Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha".

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi Timôthêu.

Con thân mến, phần cha, cha đã già yếu, giờ ra đi của cha đã gần rồi. Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững đức tin. Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha. Và trong ngày đó, Chúa là Đấng phán xét chí công sẽ trao lại cho cha mũ triều thiên ấy; nhưng không phải cho cha mà thôi, mà còn cho những kẻ yêu mến trông đợi Người xuất hiện.

Lần đầu tiên cha đứng ra biện hộ cho cha, thì chẳng ai bênh đỡ cha, trái lại mọi người đều bỏ mặc cha: xin chớ chấp tội họ. Nhưng Chúa đã phù hộ cha và ban sức mạnh cho cha, để nhờ cha mà lời rao giảng được hoàn tất, và tất cả các Dân ngoại được nghe: vậy cha đã thoát khỏi miệng sư tử. Chúa đã giải thoát cha khỏi mọi sự dữ và cứu lấy cha để đưa vào nước Người trên trời. Nguyện chúc Người được vinh quang muôn đời! Amen.
Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 14, 5

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy". - Alleluia.

PHÚC ÂM: Lc 18, 9-14

"Người thu thuế ra về được khỏi tội".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu nói dụ ngôn sau đây với những ai hay tự hào mình là người công chính và hay khinh bỉ kẻ khác: "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người biệt phái, một người thu thuế. Người biệt phái đứng thẳng, cầu nguyện rằng: 'Lạy Chúa, tôi cảm tạ Chúa vì tôi không như các người khác: tham lam, bất công, ngoại tình, hay là như tên thu thuế kia; tôi ăn chay mỗi tuần hai lần và dâng một phần mười tất cả các hoa lợi của tôi'. Người thu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực và nguyện rằng: 'Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội'. Ta bảo các ngươi: người này ra về được khỏi tội, còn người kia thì không. Vì tất cả những ai tự nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên".
Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM :
"Những ai tự nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên".
Trong cuộc sống chúng ta rất dễ... vương vào lỗi tự tôn mình lên, và tìm cách hạ người khác xuống, lắm lúc xen vào cả trong lời cầu nguyện của chúng ta : kể công mình, và hài tội người khác.
Trong bài đọc 1, sách Huấn Ca cho chúng ta biết ý Chúa : Ngài nghe lời cầu xin của người nghèo, những người thấp cổ bé miệng, bị áp bức, và Ngài bênh đỡ họ.
Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu chỉ rõ cách cầu nguyện của người tội lỗi xuất phát từ lòng sám hối và khiêm nhường được Chúa nhận lời. Còn kiểu cầu nguyện đầy tự phụ của người tự cho mình công đức, để vênh mặt kể công với Chúa, và xem mình đủ tư cách để xét đoán người anh em mình.

Qua bài đọc 2, thánh Phaolô cho chúng ta thấy rõ : Chúa yêu chuộng người hiền đức sống khiêm nhường, vững tin và đi trọn hành trình đức tin : mà ông chỉ cậy dựa hoàn toàn vào ơn phúc của Chúa, "cha đã thoát khỏi miệng sư tử. Chúa đã giải thoát cha khỏi mọi sự dữ và cứu lấy cha để đưa vào nước Người trên trời. Nguyện chúc Người được vinh quang muôn đời! Amen. " Thánh nhân đã dâng trả mọi vinh quang, muôn lời ca tụng về cho Thiên Chúa cội nguồn mọi sự thánh thiện, và vinh quang.

Lạy Chúa xin dạy con, và giúp con sống khiêm nhường theo gương Chúa là Đâng khiêm nhường, như Chúa dạy chúng con :
"Những ai tự nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên".

13 tháng 10 2013

Chúa Nhật XXVIII Thường Niên - Năm C


"Chớ thì không phải cả mười người được lành sạch sao? Còn chín người kia đâu? Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này"

BÀI ĐỌC I: 2 V 5, 14-17


"Naaman trở lại gặp người của Thiên Chúa và ông tuyên xưng Chúa".

Trích sách Các Vua quyển thứ hai.

Trong những ngày ấy, Naaman, quan lãnh binh của vua xứ Syria, xuống tắm bảy lần ở sông Giođan như lời tiên tri, người của Thiên Chúa dạy, da thịt ông lại trở nên tốt như da thịt của đứa trẻ, và ông được sạch.

Sau đó, ông và đoàn tuỳ tùng trở lại gặp người của Thiên Chúa. Đến nơi, ông đứng trước mặt người của Thiên Chúa và nói: "Thật tôi biết không có Thiên Chúa nào khác trên hoàn vũ, ngoài một Thiên Chúa ở Israel. Vì thế, tôi xin ông nhận lấy phần phúc của tôi tớ ông".

Tiên tri trả lời rằng: "Có Chúa hằng sống, tôi đang đứng trước mặt Người: Thật tôi không dám nhận đâu". Naaman cố nài ép, nhưng tiên tri không nghe. Naaman nói thêm rằng: "Tuỳ ý ông, nhưng tôi xin ông ban phép cho tôi, là đầy tớ của ông, được chở một ít đất vừa sức hai con la chở được, vì từ nay ngoài Chúa, tôi tớ của ông sẽ chẳng dâng của lễ toàn thiêu hoặc hy lễ cho thần minh nào khác".
Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 97, 1. 2-3ab. 3cd-4


Đáp: Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người trước mặt chư dân (c. 2b).

Xướng: 1) Hãy ca tụng Chúa một bài ca mới, vì Người đã làm nên những điều huyền diệu. Tay hữu Người đã tạo cho Người cuộc chiến thắng, cùng với cánh tay thánh thiện của Người. - Đáp

2) Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người; trước mặt chư dân Người tỏ rõ đức công minh. Người đã nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành để sủng ái nhà Israel. - Đáp.

3) Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Toàn thể địa cầu hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hỉ, mừng vui và đàn ca! - Đáp.

BÀI ĐỌC II: 2 Tm 2, 8-13


"Nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Đức Kitô".

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi Timôthêu.

Con thân mến, con hãy nhớ rằng Chúa Giêsu Kitô bởi dòng dõi Đavít, đã từ cõi chết sống lại, theo như Tin Mừng cha rao giảng. Vì Tin Mừng đó mà cha phải đau khổ đến phải chịu xiềng xích như một kẻ gian ác, nhưng lời của Thiên Chúa đâu có bị xiềng xích! Vì thế, cha cam chịu mọi sự vì những kẻ được tuyển chọn, để họ được hưởng ơn cứu độ cùng với vinh quang trên trời trong Đức Giêsu Kitô.

Đây cha nói thật: Nếu chúng ta cùng chết với Người, thì chúng ta cùng sống với Người. Nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Người. Nếu chúng ta chối bỏ Người, thì Người cũng sẽ chối bỏ chúng ta. Nếu chúng ta không tin Người, Người vẫn trung thành, vì Người không thể chối bỏ chính mình Người.
Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Lc 19, 38


Alleluia, alleluia! - Chúc tụng Đức Vua, Đấng nhân danh Chúa mà đến! Bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời! - Alleluia.

PHÚC ÂM: Lc 17, 11-19


"Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, Người đi qua biên giới Samaria và Galilêa. Khi Người vào một làng kia, thì gặp mười người phong cùi đang đứng ở đàng xa, họ cất tiếng thưa rằng: "Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi". Thấy họ, Người bảo họ rằng: "Các ngươi hãy đi trình diện với các tư tế". Trong lúc họ đi đường, họ được lành sạch. Một người trong bọn họ thấy mình được lành sạch, liền quay trở lại, lớn tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rồi đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và tạ ơn Người, mà người ấy lại là người xứ Samaria.

Nhưng Chúa Giêsu phán rằng: "Chớ thì không phải cả mười người được lành sạch sao? Còn chín người kia đâu? Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này". Rồi Người bảo kẻ ấy rằng: "Ngươi hãy đứng dậy mà về: vì lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi".
Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM :
Lời Chúa Chúa Nhật 28 năm C, hướng chúng ta đến tình thương của Thiên Chúa dành cho người tin tưởng kêu xin, và bài học quý giá cho chúng ta đó là lòng biết ơn, tâm tình tạ ơn Thiên Chúa đã chữa lành.
Trong bài đọc 1, tướng Naaman, một người ngoại giáo bị bệnh phong hủi tìm đến với người của Thiên Chúa, và đã thực hiện việc ông chỉ dẫn, tắm 7 lần dưới sông Giodan. Ông đã được chữa lành. Ông quay lại gặp người của Thiên Chúa và tạ lễ, nhưng đã bị từ chối, cuối cùng, ông xin được chở 2 xe đất tại Israel về, với xác tín, chỉ có Thiên Chúa của Israel là Thiên Chúa duy nhất, ông ta chỉ tế lễ cho một mình Thiên Chúa, chứ không dành cho thần nào nữa. Lòng biết ơn trở thành xác tín của lòng tin.

Ở bài Tin mừng, kể lại 10 người cùi đã xin Chúa Giêsu chữa lành họ. Chúa dạy họ đi trình thượng tế... và dọc đường thì họ sạch. 1 người trong số họ quay lại tạ ơn Chúa, người đó là người Samari.

Chúa Giêsu, khen anh chàng ngoại giáo biết tôn danh và tạ ơn Chúa. Anh ta tỏ lòng biết ơn, và lòng tin giúp anh lành bệnh được củng cố "Ngươi hãy đứng dậy mà về: vì lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi".

Trở lại bài đọc 2, Thánh Phaolô gửi lời khuyêns dụ ông Timôtê kiên vững trong đức tin, và chắc chắn, Thiên Chúa dành phần thưởng cho người kiên tâm, bền chí đến cùng. "Nếu chúng ta cùng chết với Người, thì chúng ta cùng sống với Người. Nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Người."

Một điều chúng ta cần chú ý trong đời sống của chúng ta, đó là sự vô ơn và thái độ, hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử mà mỗi người dễ mắc phải :
khi mặc bệnh phong cùi họ giống nhau về số phận và danh phận (bị cho là tội lỗi, bệnh tật, ở ngoài cộng đồng xã hội và tôn giáo). Khi họ lành bệnh, thì họ chia thành 2 : 9 người Do thái, chắc là về trình với các thầy tư tế, để được gia nhập công đoàn do thái giáo của họ, và họ cắt đứt với anh ban Samari đang cùng đi ( vì sợ ô uế); cùng quên trở lại tạ ơn Chúa. Họ vô ơn và ích kỷ.

Đây là một cảnh giác với mỗi người kitô hữu :
1. Tin và sống niềm tin thành lời tuyên xưng.
2. Lòng biết ơn và tâm tình tạ ơn Thiên Chúa thật sự;
3. Kiên vững trong Đức tin và vượt qua rào cản của kỳ thị để sống với mọi người bằng đức ái.

Lời Sống :
Thực hành Lời Chúa như Naaman :
"Từ nay ngoài Chúa, tôi tớ của ông sẽ chẳng dâng của lễ toàn thiêu hoặc hy lễ cho thần minh nào khác".

07 tháng 10 2013

Chúa Nhật XXVII Thường Niên - Năm C

Soạn bởi Peter Lê
 
'Chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm'".

BÀI ĐỌC I: Kb 1, 2-3; 2, 2-4

"Người công chính sẽ sống được nhờ trung tín".

Trích sách Tiên tri Khabacúc.

Lạy Chúa, con kêu cầu Chúa cho đến bao giờ mà Chúa không nghe? Con phải ức ép kêu lên cùng Chúa, mà Chúa không cứu con sao? Cớ sao Chúa tỏ cho con thấy sự gian ác và lao khổ, cướp bóc và bất lương trước mặt con? Dù có công lý, nhưng kẻ đối nghịch vẫn thắng.

Chúa đáp lại tôi rằng: "Hãy chép điều con thấy, hãy khắc nó vào tấm bảng, để đọc được dễ dàng. Bởi hình lạ còn xa, nó sẽ xuất hiện trong thời sau hết, và sẽ chẳng hư không. Nó kết duyên với ngươi, hãy chờ đợi nó, vì nó sẽ đến không trì hoãn. Chắc chắn nó sẽ đến, không sai. Người không có lòng ngay thì ngã gục, nhưng người công chính sẽ sống nhờ trung tín".
Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 94, 1-2. 6-7. 8-9

Đáp: Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: "Các ngươi đừng cứng lòng!" (c. .

Xướng: 1) Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Đá Tảng cứu độ của ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người. - Đáp.

2) Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp lạy; hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Đấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta, và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người. - Đáp.

3) Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: "Đừng cứng lòng như ở Meriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta; họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta. - Đáp.

BÀI ĐỌC II: 2 Tm 1, 6-8, 13-14

"Con chớ hổ thẹn làm chứng cho Chúa chúng ta".

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi cho Timô-thêu.

Con thân mến, cha khuyên con hãy làm sống lại ơn Thiên Chúa đã ban cho con do việc đặt tay của cha. Vì chưng, Thiên Chúa không ban cho chúng ta một thần khí nhát sợ, mà là thần khí dũng mạnh, bác ái và tiết độ. Vậy con chớ hổ thẹn làm chứng cho Chúa chúng ta, và cho cha nữa, là tù nhân của Người, nhưng con hãy đồng lao cộng tác với cha vì Tin Mừng, nhờ quyền năng của Thiên Chúa.

Con hãy lấy những lời lành lẽ phải, con đã nghe cha nói, làm mẫu mực trong đức tin và lòng mến nơi Đức Giêsu Kitô. Con hãy cậy nhờ Thánh Thần là Đấng ngự trong chúng ta mà gìn giữ kho tàng tốt đẹp.
Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 10, 27

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta: Ta biết chúng và chúng theo Ta". - Alleluia.

PHÚC ÂM: Lc 17, 5-10

"Nếu các con có lòng tin".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, các Tông đồ thưa với Chúa Giêsu rằng: "Xin Thầy ban thêm lòng tin cho chúng con". Chúa liền phán rằng: "Nếu các con có lòng tin bằng hạt cải, thì dẫu các con khiến cây dâu này rằng: 'Hãy bứng rễ lên mà đi trồng dưới biển', nó liền vâng lời các con.

"Ai trong các con có người đầy tớ cày bừa hay chăn súc vật ngoài đồng trở về, liền bảo nó rằng: 'Mau lên, hãy vào bàn dùng bữa', mà trái lại không bảo nó rằng: 'Hãy lo dọn bữa tối cho ta, hãy thắt lưng và hầu hạ ta cho đến khi ta ăn uống đã, sau đó ngươi mới ăn uống'. Chớ thì chủ nhà có phải mang ơn người đầy tớ, vì nó đã làm theo lệnh ông dạy không? Thầy nghĩ rằng: Không. Phần các con cũng vậy, khi các con làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng: 'Chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm'".
Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM :
TIN : làm đáp trả lại... là tín thác vào Chúa, là trung thành, trung tín giữ giao ước và luật Chúa truyền.

Trong bài dọc 1, Chúa nói người công chính sẽ sống được nhờ trung tín. Và như thế, Trung tín là bảo đảm sự công chính và sự sống cho người công chính.

bài đọc 2, Lòng tin, sự trung tín thể hiện ở chổ là Tuyên Xưng Đức Tin, là làm Chứng cho Chúa... Nên chứng nhân bằng đời sống đức tin và cả bằng rao giảng Lời Chúa.

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu dạy, Lòng tin thể hiện ở việc trung thành chu toàn bổn phận và trách nhiệm vì đó là việc phải làm, cần làm... Làm việc Chúa là làm việc nhà, việc của mình.

Và đó là điều đẹp ý Chúa.
"khi các con làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng: 'Chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm'".

Amen -Amen - Amen

29 tháng 9 2013

Chúa Nhật XXVI Thường Niên - Năm C


BÀI ĐỌC I: Am 6, 1a. 4-7


"Các ngươi đã mê đắm và ca hát, giờ đây các ngươi bị lưu đày.

Trích sách Tiên tri Amos.

Đây Chúa toàn năng phán: "Khốn cho các ngươi là những kẻ phú quý ở Sion, và tự kiêu trên núi Samaria. Các ngươi đã nằm ngủ trên giường ngà, mê đắm trên ghế dài: ăn chiên con trong đoàn và bê béo trong đàn; và ca hát theo tiếng đàn cầm thụ; người ta nghĩ mình như Đavit, có những nhạc khí, dùng chén lớn uống rượu, lấy dầu hảo hạng xức lên mình, và chẳng thương hại gì đến nỗi băn khoăn của Giuse; vì thế, giờ đây họ phải lưu đày và đi đầu các kẻ lưu đày; những buổi yến tiệc của các kẻ buông tuồng sẽ không còn nữa".
Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 145, 7. 8-9a. 9bc-10


Đáp: Linh hồn tôi ơi, hãy ngợi khen Chúa (c. 2a).

Xướng: 1) Chúa là Đấng trả lại quyền lợi cho người bị ức, và ban cho những người đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội. - Đáp.

2) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù; Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục; Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân; Thiên Chúa che chở những khách kiều cư. - Đáp.

3) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường nẻo đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời, Sion hỡi, Thiên Chúa của ngươi sẽ làm vua tự đời này sang đời khác. - Đáp.

BÀI ĐỌC II: 1 Tm 6, 11-16

"Con hãy gìn giữ huấn lệnh cho tới ngày Chúa lại đến".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi Timôthêu.

Hỡi người của Thiên Chúa, hãy theo đuổi đức công chính, lòng đạo hạnh, đức tin, đức ái, đức nhẫn nại, đức hiền lành. Con hãy chiến đấu trong cuộc chiến đấu chính nghĩa của đức tin. Hãy cố đoạt lấy sự sống đời đời mà con đã được kêu gọi tới và cũng vì đó, con đã mạnh dạn tuyên xưng đức tin trước mặt nhiều nhân chứng. Cha chỉ thị cho con trước mặt Thiên Chúa, Đấng làm cho muôn vật được sống, và trước mặt Đức Giêsu Kitô, Đấng đã làm trước mặt Phongxiô Philatô, lời tuyên xưng thẳng thắn, con hãy giữ gìn huấn lệnh đó cho tinh tuyền và không thể trách được, cho tới ngày Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô lại đến, mà đến thời đã định, Đấng phúc lộc và quyền năng duy nhất sẽ tỏ ra, Người là Thiên Chúa, Vua các vua và Chúa các chúa, Đấng độc nhất trường sinh bất tử, Người ngự trong ánh sáng siêu phàm, không một ai trong loài người đã xem thấy hay có thể xem thấy: (kính chúc) vinh dự và quyền năng cho Người muôn đời. Amen!
Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 1, 14 và 12b

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang nghe, Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

PHÚC ÂM: Lc 16, 19-31

"Ngươi đã được sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng những người biệt phái rằng: "Có một nhà phú hộ kia vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người hành khất tên là Ladarô, nằm bên cổng nhà ông đó, mình đầy ghẻ chốc, ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy. Nhưng xảy ra là người hành khất đó chết và được các Thiên Thần đem lên nơi lòng Abraham. Còn nhà phú hộ kia cũng chết và được đem chôn. Trong hoả ngục, phải chịu cực hình, nhà phú hộ ngước mắt lên thì thấy đàng xa có Abraham và Ladarô trong lòng Ngài, liền cất tiếng kêu la rằng:

" 'Lạy Cha Abraham, xin thương xót tôi và sai Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước để làm mát lưỡi tôi, vì tôi phải quằn quại trong ngọn lửa này'. Abraham nói lại: 'Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ. Vậy bây giờ Ladarô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu khốn khổ. Vả chăng, giữa các ngươi và chúng tôi đây đã có sẵn một vực thẳm, khiến những kẻ muốn từ đây qua đó, không thể qua được, cũng như không thể từ bên đó qua đây được'.

"Người đó lại nói: 'Đã vậy, tôi nài xin cha sai Ladarô đến nhà cha tôi, vì tôi còn năm người anh em nữa, để ông bảo họ, kẻo họ cũng phải sa vào chốn cực hình này'. Abraham đáp rằng: 'Chúng đã có Môsê và các tiên tri, chúng hãy nghe các ngài'. Người đó thưa: 'Không đâu, lạy cha Abraham, nhưng nếu có ai trong cõi chết hiện về với họ, thì ắt họ sẽ hối cải'. Nhưng Abraham bảo người ấy: 'Nếu chúng không chịu nghe Môsê và các tiên tri, thì cho dù kẻ chết sống lại đi nữa, chúng cũng chẳng chịu nghe đâu' ".
Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM
(Peter Lê gợi ý):
Lời Chúa Chúa nhật 26 Thường niên C, Giáo hội hướng chúng ta đến đời sống mai hậu là đích điểm của đời sống và đức tin của chúng ta : được sống đời đời bên Chúa, hay bị án phạt xa cách Chúa mãi mãi.

Trong bài đọc 1, tiên tri Amos tiên báo cho dân, những kẻ đang sống vinh hoa, hưởng thụ mà không biết chia sẻ cho anh em, đồng loại, ngó lơ trước nổi khổ, cảnh đói nghèo của anh em đồng môn... họ sẽ bị lưu đày... Và lý do, họ sẽ bị đi đày là do đời sống trác táng và thiếu đức ái, không biết yêu thương anh em đang gặp cảnh túng thiếu. Và thực sự lịch sử đúng như thế. Một sự phán xét, thưởng phạt ngay ở đời này.

Trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu đưa ra 2 cảnh đời : 1 Lagiarô đói rách, ăn xin, đầy ghẻ chốc, ngồi ngoài cổng,ước mảnh vụn bánh để cho đầy bụng, mà không ai cho; bên kia là phú hộ ăn sung mặc sướng, ở trong nhà ngày đêm yến tiệc...Ham vui, mà quên người đồng loại khốn khổ ở ngoài cổng, chỉ có chó đến liếm ghẻ chốc.. Kết cục, cả hai cùng qua đời. Anh Lagiarô được các thiên thần đem lên ngồi trong lòng tổ phụ Abraham, tổ phụ của kẻ tin, trong đất của người sống. Còn phú hộ thì vào vào "hỏa ngục" chịu cực hình và ở trong cõi đất dành cho "người chết." Chúng ta được Chúa vén cho thấy hậu cảnh của phán xét - phán xét riêng.

Trong viễn tượng đức tin đó, thánh Phaolô dẫn chúng ta vào trong trọng tâm của mầu nhiệm cánh chung : đó là cuộc quang lâm của Chúa Giêsu. Con cái ánh sáng, người của Thiên Chúa
1. hãy theo đuổi đức công chính, lòng đạo hạnh, đức tin, đức ái, đức nhẫn nại, đức hiền lành.
2. hãy chiến đấu trong cuộc chiến đấu chính nghĩa của đức tin.
3. Hãy cố đoạt lấy sự sống đời đời mà con đã được kêu gọi tới và cũng vì đó, con đã mạnh dạn tuyên xưng đức tin trước mặt nhiều nhân chứng.
Cha chỉ thị cho con trước mặt Thiên Chúa, Đấng làm cho muôn vật được sống, và trước mặt Đức Giêsu Kitô, Đấng đã làm trước mặt Phongxiô Philatô, lời tuyên xưng thẳng thắn,
4. hãy giữ gìn huấn lệnh đó cho tinh tuyền và không thể trách được,
cho tới ngày Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô lại đến, mà đến thời đã định, Đấng phúc lộc và quyền năng duy nhất sẽ tỏ ra, Người là Thiên Chúa, Vua các vua và Chúa các chúa, Đấng độc nhất trường sinh bất tử, Người ngự trong ánh sáng siêu phàm, không một ai trong loài người đã xem thấy hay có thể xem thấy: (kính chúc) vinh dự và quyền năng cho Người muôn đời. Amen!

Trong toàn cảnh đó, Chúa dạy chúng con sống và tuyên xưng đức tin tinh tuyền của Hội Thánh vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chúa đã phục sinh vinh hiển sẽ Quang Lâm,
* vừa sống hiền lành, chính trực, công minh,
* vừa nhiệt tâm thực thi bác ái. Như thánh Giacô bê đã nói : đức tin không việc làm là đức tin chết. và thánh Phao lô dạy... dù làm đủ thứ việc : tiên tri, giảng dạy, phép lạ... mà không có đức ái thì cũng chẳng là gì cả, chỉ như thanh phèng kêu in ỏi...

Tạ ơn Chúa, xin thêm đức tin cho chúng con để chúng con nhận ra điều hạnh phúc tuyệt hảo là đã nghe được chính Lời Chúa dạy và đã được Chúa ban ơn Đức tin.

Amen. Amen. Amen.


Peter Lê

15 tháng 9 2013

Lời Chúa Chúa Nhật XXIV Thường Niên Năm C

Phân tích và Chia sẻ - Lời Chúa Chúa Nhật XXIV Thường Niên Năm C
(15/09/2013) - (Lc.15,1-32)

Nguyên văn Bài Tin mừng:

Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp người tội lỗi và ăn uống với chúng.” Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này:

“Người nào trong các ông có một trăm cho chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bèm hàng xóm lại, và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.’ Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.”

“Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã dánh mất.’ Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.”

Rồi Đức Giê-su nói tiếp: “Một người kia có hai con trai. Người con thứ nói với cha rằng: ‘Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng.’ Và người cha đã chia của cải cho hai con. Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình.
Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói! Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.’ Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha.

Anh ta còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con nói rằng: ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa….’ Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: ‘Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.’ Và họ bắt đầu ăn mừng.

Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, liền gọi một đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. Người ấy trả lời: ‘Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì gặp lại cậu ấy mạnh khỏe.’ Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. Cậu trả lời cha: ‘Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!’
Nhưng người cha nói với anh ta: ‘Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy’.”
________________________________

Phân tích và Chia sẻ.

Mở đầu bài Tin mừng Kinh thánh viết: ______ Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp người tội lỗi và ăn uống với chúng.” Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này:

“Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng”

Ta đã từng nghe Đức Giêsu trả lời cho Kinh sư và người Pharisêu khi chất vấn, tại sao Ngài năng lui tới với những người tội lỗi, Ngài nói: Chỉ người đau yếu mới cần đến thầy thuốc, còn người khỏe mạnh thì không. Người tội lỗi là những người đau yếu thật sự trong tâm hồn, còn Đức Giêsu, sứ mạng của Ngài khi đến trần gian là để đưa mọi người về với Thiên Chúa,vì mọi người đều là tội nhân trước mặt Chúa, như vậy Đức Giêsu được ví như người thầy thuốc.

Những người thu thuế là những người làm ăn sinh sống bằng những nghề khá mập mờ. Thế nên, họ chẳng lưu tâm đến luật lệ của Thiên Chúa trong lý thuyết lẫn trong thực hành; họ chẳng cần biết đến những giá trị tinh thần, những cái họ coi là chỉ tổ mất thì giờ và bất lợi. Họ còn có thái độ khinh dể những nơi thờ phượng nữa.

Còn những người tội lỗi, họ chỉ thấy bình thản khi lãng quên Thiên Chúa và cố tránh né mọi bận tâm về tôn giáo.

Cả hai loại người này được coi là những người đau yếu trong tâm hồn, mặc dù họ có vẻ không quan tâm đến nhu cầu tinh thần, nhưng trong thâm tâm mỗi người đều nhận thấy có cái gì đó không ổn, vẫn văng vẳng đâu đó tiếng nói tra vấn, trách móc, không thể tiếp tục sống như vậy được, phải bắt đầu lại. Nhưng phải bắt đầu lại từ đâu bây giờ? Họ không tìm thấy sự thu hút nơi Kinh sư và Pharisêu, vì họ nhận thấy nơi những con người này đầy sự giả dối. Chẳng thà tội lỗi như họ mà hay hơn, vì họ đã dám sống trung thực với chính mình. Khi Đức Giêsu xuất hiện rao giảng Tin mừng, nghe lời Ngài giảng dạy họ đã bắt đúng nhịp, họ bị lôi cuốn, do đó họ tuốn đến với Ngài.

Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp người tội lỗi và ăn uống với chúng.”

Những người Pharisêu, đại biểu cho thành phần tôn giáo ‘đạo gốc’, là những nhà đạo đức chuyên nghiệp, những người sùng đạo nhiệt thành, những người hoàn toàn không thể trách cứ: tóm lại họ là thành phần đạo đức ưu hạng.

Các luật sĩ là những nhà chuyên môn, những người thông thạo lề luật và thực hành về tôn giáo, thông thái về khoa giáo điều, nói những lời đáng tin về Thiên Chúa. Và hẳn là những hạng người này đã không đến với Đức Kitô, có chăng là tính cách địch thủ, hầu hại Ngài và làm cho Ngài ‘mất tín nhiệm’.

Cả hai loại người này tự cho mình là công chính, họ không cần đến thầy thuốc, họ có một quan niệm rất ẫu trĩ: cho rằng người đạo đức không được gần gũi với người tội lỗi, tránh càng xa càng tốt. Dưới con mắt họ, Đức Giêsu là người khó hiểu, họ không hiểu tại sao: một người như Ngài lại giao du với bọn tội lỗi và thu thuế, có khi còn cả bọn gái điếm.

Để trả lời cho những suy nghĩ thầm kín đó, Đức Giêsu đã đưa ra ba dụ ngôn:

+ Dụ ngôn tìm con chiên bị thất lạc.
+ Dụ ngôn tìm đồng tiền bị mất.
+ Dụ ngôn Người cha nhân hậu.
_________________________________

Dụ ngôn thứ nhất: Tìm con chiên bị thất lạc

Kinh thánh viết tiếp: _________ “Người nào trong các ông có một trăm cho chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bèm hàng xóm lại, và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.’ Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.”

Vì Bài Tin mừng khá dài, có tất cả ba dụ ngôn, nên hai dụ ngôn đầu ta chỉ lướt qua mà tập trung phân tích cho dụ ngôn thứ ba, là dụ ngôn kinh điển của Kinh thánh.

Đoạn Tin mừng trên là Dụ ngôn thứ nhất, nó được gọi là: “Dụ ngôn Tìm con chiên bị thất lạc”. Dụ ngôn này có các điểm chính như sau:

(1) Không nói lý do con chiên đi lạc: Người mục tử không cần biết lý do, ông chỉ biết sứ vụ của ông là đi tìm nó.

(2) Lòng nhân từ của người chăn chiên: Ông đi tìm cho được con chiên lạc, chứ không đợi cho chiên lạc trở về. Sẵn sàng bỏ lại 99 con để đi tìm con chiên bị mất.

(3) Khi tìm được con chiên lạc, ông mừng rỡ vác chiên lên vai. Ông không đánh chiên vì tội đi lạc, cũng không làm chiên xấu hổ vì tội đi lạc; nhưng chứng tỏ cho chiên biết nó được yêu thương qua việc vác chiên trên vai.

(4) Kêu gọi bạn bè và hàng xóm đến ăn mừng: Lý do ăn mừng là tìm được con chiên bị mất. Một con chiên thế nào đi nữa đều có giá trị với người mục tử nhân lành.

Câu trả lời của Đức Giêsu cho Kinh sư và Pharisêu nằm ở cuối của dụ ngôn: “Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.”
____________________________________

Dụ ngôn thứ hai: Tìm đồng tiền bị mất.

Kinh thánh viết tiếp: _________ “Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã dánh mất.’ Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.”

Tương tự, Dụ ngôn này có các điểm chính như sau:

(1) Chẳng để ý đến lý do bị mất.
(2) Bà làm hết mọi cách để tìm cho kỳ được: thắp đèn, quét nhà, moi móc. Thiên Chúa cũng làm mọi cách để tìm cho được các tội nhân và đưa về.

(3) Ăn mừng? Nhiều người châm biếm: Bà phải tiêu 9 quan kia để mở tiệc ăn mừng đãi hàng xóm! Câu truyện không nằm chỗ đó; nhưng nếu có phải tiêu hết 9 quan, Thiên Chúa cũng cho Bà 10 quan khác.

Câu trả lời của Đức Giêsu cho Kinh sư và Pharisêu nằm ở cuối của dụ ngôn: “Tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.”
________________________________

Dụ ngôn thứ ba: Người Cha nhân hậu. (Không trích dẫn lại)

Dụ ngôn này có các tên gọi sau đây:

+ Dụ ngôn người con hoang đàng.
+ Dụ ngôn hai người con hoang đàng.
+ Dụ ngôn người cha phung phí.
+ Dụ ngôn người cha nhân hâu.

Sở dĩ Dụ ngôn có đến 4 tên gọi, vì khi phân tích, tùy theo ta nhấn mạnh quan điểm nào, mà dụ ngôn có tên gọi theo quan điểm đó, trong phần phân tích sau đây, ta sẽ hiểu được cả 4 tên gọi trên. Nhưng cái tên gọi “Dụ ngôn Người Cha nhân hậu” mới diễn tả chính xác nhất Tình yêu của Thiên Chúa đối với người tội lỗi. Đây là dụ ngôn kinh điển trong Kinh thánh, tức tiêu biểu cho mọi dụ ngôn, là áng văn sâu sắc và hay nhất trong Kinh thánh.

Dụ ngôn Người Cha nhân hậu sẽ bổ túc cho hai dụ ngôn trên.

Trong hai dụ ngôn vừa mới xét: Chính Thiên Chúa đi tìm người tội lỗi (Người chăn chiên đi tìm con chiên lạc, người đàn bà tìm đồng tiền bị mất)

Trong dụ ngôn thứ ba: Người tội lỗi tìm về với Thiên Chúa (Người con hoang tự trở về với cha mình).

Vì Đức Giêsu đang trả lời cho Kinh sư và Pharisêu: Tại sao Ngài đến với những người tội lỗi, nên các nhân vật trong Dụ ngôn sẽ phản ánh cho các nhân vật trong sự kiện hôm nay. Dụ ngôn có các nhân vật:

+ Người con thứ: Ám chỉ người thu thuế và tội lỗi.
+ Người con cả: Ám chỉ Kinh sư và Pharisêu.
+ Người cha: Ám chỉ Thiên Chúa, cụ thể là Đức Giêsu.
_________________________________

NGƯỜI CON THỨ

Một người kia có hai con trai. Người con thứ nói với cha rằng: “Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng.” Và người cha đã chia của cải cho hai con. Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa.

Ta có thể đặt vấn đề: Tại sao đang sống yên ổn trong gia đình, người con thứ lại đòi chia gia tài? Anh ta đòi chia vì động lực gì?

Trước hết, nguyên việc đòi chia gia tài, đã cho biết anh ta là đứa con bất hiếu, vì theo luật Do Thái, người cha có thể định đoạt về của cải của ông hoặc bằng một di chúc được thi hành sau khi ông qua đời (Ds 36,7-9; 27,8-11). Như vậy, việc chia gia tài chỉ có hiệu lực khi người cha đã mất, và luật pháp sẽ dựa vào di chúc này để phân chia, không có chuyện chia gia tài khi người cha còn sống.

Người con thứ đòi chia gia tài có phải vì gia tài không? Xin thưa: KHÔNG.

Vì theo luật Do Thái, Trưởng nam được hưởng “hai phần sản nghiệp”, nghĩa là gấp đôi phần được ban cho mỗi người con khác (Đnl 21,17). Ở đây, vì chỉ có hai đứa con, người con cả được nhận hai phần ba và người con thứ nhận một phần ba. Khi đó, người con có quyền sở hữu, nhưng quyền thu hoa lợi vẫn thuộc về người cha cho đến khi ông qua đời. Nếu người con bán phần gia sản của mình, người mua chỉ được nhận lấy sau khi người cha chết. Khi làm như thế, người con sẽ không còn có quyền đòi hỏi gì về của cải, cả về vốn lẫn lãi.

Như vậy, khi người cha còn sống, thì quyền thu hoa lợi vẫn thuộc về người cha, ngay cả người con bán đi phần của mình, thì người mua chỉ được làm chủ khi người cha của người bán qua đời. Nhưng trong Tin mừng nói rõ: Người cha vẫn chia gia tài và vẫn cho phép người con thứ thu gom phần của mình để trảy đi phương xa làm ăn. Do đó, có người nói, đây là “Dụ ngôn người cha phung phí”.

Như vậy, người con thứ đòi chia gia tài vì lý do gì? Xin thưa: VÌ MUỐN ĐƯỢC TỰ DO.

Mặc dù đang sống trong mái ấm gia đình, được tình yêu thương của người cha, được hưởng tất cả những gì của người con, nhưng anh vẫn cảm thấy có một cái gì đó ngột ngạt, có một cái gì đó khuôn phép và anh phải tuân theo cái khuôn phép đó, anh không được làm bất kỳ những gì mình muốn. Cái gia đình kia, dù nó to lớn thế nào, dù của cải đầy ắp thế nào, từ lâu anh đã coi nó như một chiếc lồng giam hãm, mà mình muốn thoát ra khỏi cái lồng đó bất cứ lúc nào. Sự khao khát tự do đó mỗi ngày một mãnh liệt và ngày hôm nay anh quyết định xin cha chia gấp gia tài để ra khỏi chiếc lồng đó. Cha muốn chia thế nào tùy ý cha, điều đó đối với anh không quan trọng, anh không hề bận tâm.

Người con thứ là hình ảnh của người thu thuế, người tội lỗi và cả chúng ta, vì chúng ta luôn muốn dứt ra khỏi sự yêu thương của Thiên Chúa, cho dù Thiên Chúa có là Người Cha đầy lòng nhân hậu, nhưng cái khao khát tự do của ta mới là cái cháy bỏng. Ta muốn làm gì là tùy ý ta và không muốn bị hạn chế bởi bất cứ quyền lực nào, đó mới là con người trọn vẹn, vì tự do là món quà cao quý mà Thiên Chúa ban cho con người.

Thế nhưng quan niệm tự do như vậy có đúng không? Xin thưa: KHÔNG. Vì ngay tự bản chất, ta chỉ là loài thụ tạo, được Thiên Chúa dựng nên chứ không phải tự mình mà có, nên ta phải ở trong và lệ thuộc vào Đấng Tạo Hóa. Khi vẫn còn ở trong Thiên Chúa, ta mới có hạnh phúc và ta mới là con người đích thực, vì vẫn ở trong và kết hợp với Đấng dựng nên mình. Nếu ta dứt ra khỏi Thiên Chúa, tức ta đã dứt ra khỏi nguồn sống, kết quả chỉ là sự thảm hại như phần Tin mừng sau đây dẫn chứng.

“Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình. Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho.”

Anh ta đã phung phí hết tài sản của mình trong các cuộc vui chơi bất tận, cho bọn đĩ điếm và bây giờ đã khánh kiệt. Ta không hiểu tại sao anh không vạch ra cho mình một phương án, một chương trình để gầy dựng cuộc sống mới tốt đẹp, với tài sản mình đang sở hữu mà lại phung phí như vậy?

Xin thưa: Vì cái nguyên nhân đòi chia gia tài để trẩy đi phương xa không phải vì gia tài, mà chỉ muốn sống một cuộc sống tự do. Tiền bạc, của cải anh đang sở hữu không phải do mồ hôi nước mắt anh làm ra, nên đối với anh chỉ là đồ vô nghĩa. Bây giờ anh đã toại nguyện, muốn làm gì thì làm không có ai ngăn cản. Nhưng kết quả thật thảm hại. Anh không ngờ khi làm như vậy cứ tưởng mình được tự do, trái lại mình trở thành tên nô lệ cho chính mình.

Bao giờ cũng vậy, khi từ vạch xuất phát đi lên đỉnh cao, nếu từ đó rơi xuống, nó không rơi xuống trở lại đúng vạch xuất phát mà còn sâu hơn nữa, phải xuống tận đáy bùn đen. Cũng vậy, anh đang ở địa vị người con, là ông chủ tương lai bây giờ rơi xuống còn thua cả con vật. Anh đi chăn heo, đã là điều tệ hại, vì heo là con vật ô uế đối với quan niệm Do Thái. Chưa dừng lại đó, anh còn muốn bằng con heo cũng không được, vì anh muốn ăn thức ăn của heo nhưng không ai cho. Như vậy, chính cái tự do mà anh mong muốn, đã biến anh từ một ông chủ con xuống dưới cả con heo nữa.

“Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói! Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.’ Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha.”

Và trong lúc cùng đường, trong lúc thất bại ê chê, anh mới nhận ra sự ngu ngốc của mình. Anh trộm nghĩ, nếu cứ kéo dài tình trạng này anh sẽ chết. Chính vì vậy anh quyết tâm trở về với cha mình, soạn sẵn trong đầu những câu nói sẽ làm cha mủi lòng. Anh chỉ muốn cha coi anh như người làm công, chứ không dám mong gì hơn nữa. Trong ý nghĩ của anh không thấy một lời xin lỗi nào, mà chỉ mong thoát khỏi nạn đói này. Như vậy, anh trở về với cha không phải tư cách của một người con, nhưng là một tên đầy tớ. Cái động lực trở về không có gì tốt đẹp, chỉ quanh quẩn cái chuyện bao tử.

Nhưng khi trở về, chính thái độ yêu thương của người cha mới thực sự biến đổi anh và đưa anh trở về địa vị người con đúng nghĩa.

Anh ta còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con nói rằng: ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa….’ Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: ‘Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.’ Và họ bắt đầu ăn mừng.

Anh đã thưa với cha theo như kịch bản soạn sẵn, nhưng mới chỉ thưa hết phần đầu cha anh đã ngắt ngay, không để anh nói tiếp. “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa….” Anh chỉ muốn trở thành người làm công, cha anh hiểu anh muốn nói gì, nhưng không có người cha nào lại cho phép điều đó xảy ra. Anh phải là con, là con đúng nghĩa. Ta không thấy người cha có một câu nói trách móc nào, vì ông đang thật sự hạnh phúc, chỉ nguyên việc trở về của anh cũng đủ làm cho ông mãn nguyện rồi, đâu cần phải hỏi han gì nữa. Cha anh sai gia nhân xỏ nhẫn, xỏ dép, mặc áo đẹp nhất,... ông muốn nói với anh: “Con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.”

Qua người con thứ này, chúng ta hiểu được Tình yêu bao la của Thiên Chúa dành cho chúng ta, là những con người tội lỗi. Nếu chúng ta có can đảm trở về với Ngài, Ngài sẽ tha thứ hết không một chút gì trách móc và phục hồi quyền làm con mà ta đã mất vì tội lỗi.
_________________________________

NGƯỜI CON CẢ

Lúc người con thứ trở về, người con cả đang làm việc ngoài đồng. Khi trở về, anh nhận ra trong nhà có chuyện lạ. Sau khi hỏi một người đầy tớ, anh ta hiểu chuyện; anh không thể chấp nhận được, anh nổi giận. Ta thông cảm với anh. Vì anh không chịu vào nhà, người cha đã ra gặp. Thế là anh cho tuôn ra hết những gì vẫn chất chứa tận đáy lòng: anh nói với giọng chua cay, nhưng kể ra đúng các sự việc. Theo anh, đúng là người cha đã xử sự bất công! Những người Pharisêu và các kinh sư cũng nghĩ rằng họ có lý khi tỏ ra khó chịu với Đức Giêsu.

Trước tiên người con cả nói về chính mình: “Bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh”. Chắc chắn đấy cũng là lý tưởng của người Pharisêu và các kinh sư: “phục vụ” Thiên Chúa bền bỉ, và rất chú ý để không bao giờ vi phạm một điều răn nào.

Sau đó, người con cả nói về em với giọng hết sức khinh bỉ. Anh không gọi là “em con”, nhưng nói là “thằng con của cha đó”. Điều này cũng giống như người Pharisêu trong dụ ngôn Lc 18,10-14 nói đến “tên thu thuế kia” với giọng miệt thị.

Như thế, Đức Giêsu đã ngỏ lời với những người vẫn nghĩ rằng mình là những tôi tớ tốt lành, luôn quan tâm để không bao giờ thiếu sót một điều răn nhỏ. Khi đó, họ nghĩ họ có nhiều quyền; họ tỏ ra khó chịu, không phải đối với người tội lỗi, nhưng đối với chính Thiên Chúa vì Ngài đã đối xử với kẻ tội lỗi như vậy: Nếu như thế, sống đạo đức còn ích lợi gì? Nếu như thế, sống trung thành và vâng phục Thiên Chúa còn có ý nghĩa gì nữa?
____________________________________

NGƯỜI CHA

Người cha trông mong người con thứ từng ngày, nên ngay khi anh còn ở đàng xa, ông đã trông thấy. Ông vội vã chạy ra đón con, ông cuống quýt thúc đầy tớ chuẩn bị lễ mừng. Ông chẳng màng đến bài diễn từ bần tiện của anh ta. Ở nhà có con bê béo, ông quyết định cho giết ngay để ăn mừng. Rõ ràng trong lòng ông, niềm vui đang bùng nổ. Ông chưa bao giờ thôi thương yêu con. Nó đi xa, nó đã mất; nay nó lại được tìm thấy. Quá khứ không còn gì đáng kể, điều quan trọng là nó đã trở về!

Đã không muốn nghe lời hối lỗi của con thứ, nay người cha lại để cho người con cả tha hồ nói lên những tâm tình chua chát. Sau đó, ông đã trả lời với giọng dịu dàng âu yếm. Qua lời ông nói, người con cả chẳng còn lý do gì mà nói rằng cha xử bất công với mình nữa. Nhưng ông tế nhị điều chỉnh: “vì em con đây…”. Nếu cha đã sung sướng đến thế khi gặp lại con, lẽ nào người anh lại không vui sướng khi gặp lại em?

Chúng ta không bao giờ biết được phản ứng sau đó của người con cả (nghe theo đề nghị của cha? Đi vào nhà và chào em? Đi vào ăn tiệc chung vui?). Chúng ta cũng không biết người con thứ được sống theo chế độ nào, anh ta sẽ đáp lại thế nào. Dù sao, toàn chương 15 Tin mừng Luca giống như một bài ca chan hòa niềm vui, được tấu lên để mừng niềm hạnh phúc của người đã tìm lại được điều mà họ đã mất.

Amen.

08 tháng 9 2013

LỜI CHÚA: Chúa Nhật XXIII Thường Niên - Năm C



BÀI ĐỌC I: Kn 9, 13-18

"Ai có thể suy tưởng được sự Thiên Chúa muốn".

Trích sách Khôn Ngoan.

Ai trong loài người có thể biết được ý định của Thiên Chúa? Hay ai có thể suy tưởng được sự Thiên Chúa muốn? Vì những ý tưởng của loài hay chết thì mập mờ, và những dự định của chúng tôi đều không chắc chắn. Vì xác hay hư nát làm cho linh hồn ra nặng nề, và nhà bụi đất làm cho lý trí hay lo lắng nhiều điều ra nặng nề.

Chúng tôi ước lượng cách khó khăn các việc dưới đất, và khó nhọc tìm thấy những sự trước mắt. Còn những sự trên trời, nào ai khám phá ra được? Ai hiểu thấu Thánh ý của Chúa, nếu Chúa không ban sự khôn ngoan, và không sai Thánh Thần Chúa từ trời cao xuống. Như thế, mọi đường lối những kẻ ở dưới đất được sửa lại ngay thẳng, và loài người học biết những sự đẹp lòng Chúa.

Vì, lạy Chúa, những ai sống đẹp lòng Chúa từ ban đầu, thì được ơn cứu độ nhờ sự khôn ngoan.
Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 89, 3-4. 5-6. 12-13. 14 và 17

Đáp: Thân lạy Chúa, Ngài là chỗ chúng con dung thân, từ đời nọ trải qua đời kia (c. 1).

Xướng: 1) Thực ngàn năm ở trước thiên nhan, tựa hồ như ngày hôm qua đã khuất, như một đêm thức giấc cầm canh. Chúa khiến cho con người trở về bụi đất, Ngài phán: "Hãy trở về gốc, hỡi con người". - Đáp.

2) Chúa khiến họ trôi đi, họ như kẻ mơ màng buổi sáng, họ như cây cỏ mọc xanh tươi. Ban sáng cỏ nở hoa và xanh tốt, buổi chiều nó bị xén đi và nó héo khô. - Đáp.

3) Xin dạy chúng con biết đếm ngày giờ, để chúng con luyện được lòng trí khôn ngoan. Lạy Chúa, xin trở lại, chớ còn để tới bao giờ? xin tỏ lòng xót thương tôi tớ của Ngài. - Đáp.

4) Xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng con. Xin cho chúng con được hưởng ân sủng Chúa là Thiên Chúa chúng con, sự nghiệp tay chúng con làm ra, xin Ngài củng cố, xin Ngài củng cố sự nghiệp tay chúng con làm ra. - Đáp.

BÀI ĐỌC II: Plm 9b-10. 12-17

"Con hãy tiếp nhận nó không phải như một người nô lệ, nhưng như một người anh em rất thân mến".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gởi cho Philêmon.

Con thân mến, Phaolô già nua, và hiện đang bị cầm tù vì Đức Giêsu Kitô, cha nài xin con cho Ônêsimô, đứa con cha đã sinh ra trong xiềng xích.

Cha trao nó lại cho con. Phần con, con hãy đón nhận nó như ruột thịt của cha. Cha cũng muốn giữ nó lại để thay con mà giúp đỡ cha trong lúc cha bị xiềng xích vì Tin Mừng. Nhưng vì chưa biết ý con, nên cha không muốn làm gì, để việc nghĩa con làm là một việc tự ý, chớ không vì ép buộc. Vì biết đâu nó xa con một thời gian để rồi con sẽ tiếp nhận muôn đời, không phải như một người nô lệ, nhưng thay vì nô lệ, thì như một người anh em rất thân mến, đặc biệt đối với cha, huống chi là đối với con, về phần xác cũng như trong Chúa. Vậy nếu con nhận cha là bạn hữu, thì xin con hãy đón nhận nó như chính mình cha vậy.
Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 10, 27

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Con chiên Ta thì nghe Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta". - Alleluia.

PHÚC ÂM: Lc 14, 25-33

"Ai không từ bỏ tất cả của cải mình có, thì không thể làm môn đệ Ta".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, có nhiều đám đông cùng đi với Chúa Giêsu, Người ngoảnh lại bảo họ rằng: "Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta. Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta.

"Có ai trong các ngươi muốn xây tháp mà trước tiên không ngồi tính toán phí tổn cần thiết, xem có đủ để hoàn tất không? Kẻo đặt móng rồi mà không thể hoàn tất, thì mọi người xem thấy sẽ chế giễu người đó rằng: 'Tên này khởi sự xây cất mà không hoàn thành nổi'.

"Hoặc có vua nào sắp đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên không ngồi suy nghĩ xem mình có thể đem mười ngàn quân ra đương đầu với đối phương dẫn hai mươi ngàn quân tiến đánh mình chăng? Bằng chẳng nổi, thì khi đối phương còn ở xa, vua ấy sai một phái đoàn đến cầu hoà. Cũng thế, bất kỳ ai trong các ngươi không từ bỏ tất cả của cải mình có, thì không thể làm môn đệ Ta".
Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM  (Peter Lê gợi ý) :
Điiều kiện đi theo Chúa, trở nên môn đệ đích thực của Người :
1. Từ bỏ tất cả của cải mình có : để nên nghèo khó của Nước Trời.
2. Từ bỏ cha mẹ, anh chị em... các ràng buộc xã hội để thuộc trọn về Chúa, và trong Chúa trở thành anh em của tất cả mọi người.
3. Từ bỏ cả mạng sống mình : một chọn lựa rốt ráo, can đảm. Trong đó, chắc chắn bao hàm cả từ bỏ ý riêng.
4. Vác thánh giá mình mà theo Chúa : thánh giá của mình đó là bổn phận, những yếu đuối, thử thách, khó khăn... phải vượt qua.

Chúa Giê su đòi hỏi người môn đệ của Người phải từ bỏ một cách rốt ráo, tận tuyệt để nên giống và thuộc trọn vào Chúa, nên đồng hình, đồng dạng với Người.

Cái tính toán của người môn đệ Chúa Giêsu, là từ bỏ tất cả những vướng bận và giao phó tất cả đời mình cho Ngài, để thực sự như Phao lô đã nói " tôi sống mà không phải tôi sống mà là Đức Giêsu sống trong tôi."

Chúa ơi, xin nhìn đến những người môn đệ đi theo Chúa trong thời đại ngày nay, thực sự đang phải đối diện với nhiều thứ nhiêu khê, len lõi... làm vướng bận bước chân đi. Có thể bị ngáng trở, vấp té, có khi lại đi lạc vào mê trận của tính toán của trần thế...Giúp họ nhìn rõ đòi hỏi đích thực của Chúa đối với người môn đệ, từ bỏ đến cùng và kiên vững trong chọn lựa, để dọc hành trình được nhẹ nhàng thênh thang bước theo Chúa, thay vì dễ chăm chút vào những chi tiết các mối quan hệ vụn vặt, lẽ tẻ làm xao lãng quyết tâm dấn thân.

Xin cho chúng con biết can đảm đáp trả đòi hỏi quyết liệt của Chúa, từ bỏ mọi sự và vác thánh giá mình mà đi theo Chúa. Amen.