Trang

Nhãn

Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng

07 tháng 7 2018

ĐÔI ĐIỀU TẢN MẠN




(Nhân mười hai năm ngày mất của LM Giuse Đào Thọ Sơn,
 cha sở giáo xứ Đồng Công F2, địa phận Long Xuyên)

Ngày 06.7.2006 đã qua, cha sở Giu-se Đào Thọ Sơn giã từ trần thế, cũng đúng vào ngày này năm nay 2018, anh chị em ly hương của giáo xứ Đồng công lại tổ chức kỷ niệm lần thứ 12 xuyên suốt. Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử, con người không loại trừ ai ra khỏi định mệnh này, vậy buồn sầu chi nữa mà hãy vui lên, đổi ngày giỗ kỵ này thành mốc đoàn tụ đồng hương, ý nghĩa lắm đấy ạ!
Mười một lần đã thưc hiện liên tục mỗi năm, quả là đáng khen ngợi. Những người xa xứ lại hẹn hò rồi hội ngộ, tay bắt mặt mừng, tíu tít thăm hỏi, chuyện nọ chuyện kia, không đuôi không đầu, câu được câu mất mà sao ấm cúng lạ kỳ, từ khắp nẻo các địa phương, quy định một nơi tái ngộ, bao ký ức hiện về, tựa cá gặp mùa nước nổi, như chim tụ họp mùa xuân.
Thầm khen cho những người tình nguyện làm công việc kêu vời, họ chẳng ăn giải gì mà sao nhiệt tình đến vậy. Bốc đồng ư? Chẳng phải! Muốn nổi sao? Để làm gì! Xin đừng phê phán mà thay vào là sự cảm ơn, xin chớ chê bai mà đổi lại ân cần. Họ là những cây cầu liên kết, những chuyến đò nối liền bờ vui. Công việc nhân sinh ai cũng cuống cuồng tất bật, chạy vạy mưu sinh, thế mà còn kê vai vác ngà thiên hạ. Cừ lắm, đáng trân trọng!
Nhiều năm trôi qua rồi nhỉ? Lúc ấy họ còn niên tráng, có thể nông nổi nhưng đầy ắp  nhiệt tình. Ngày tháng cứ trôi, khuôn mặt mỗi năm lại hằn thêm vài vết, tuy còn năng nổ nhưng đã có dấu hiệu âm trầm, tuổi già bắt đầu ập đến. Ôi  cái vết thời gian nghiệt ngã.
Đâu chỉ mỗi năm một lần tái ngộ, mà còn những sớt chia không hẹn. Những người đáo hạn nhân sinh hay đột nhiên ngang bỏ cuộc chơi trần thế, lại thông báo cho nhau, bằng phương tiện truyền thông, đến biệt ly lần cuối, ủi an người ở lại vơi bớt sầu đau, cầu cho người đi sớm an cư nơi miền đất Hứa. Hằng luôn vững chãi vào niềm tin bén rễ: Sự sống chỉ thay đổi mà không hề mất hẳn.
Ai đã đi xa mới biết đau đáu nhớ quê nhà, con kinh dài thẳng tắp chia cánh đồng rộng lớn, nghề nông xưa nhọc nhằn mà giờ đây mỗi năm thêm quy mô nhàn nhã, lúc ra đi đường xá mấp mô, nhà cửa tềnh toàng, nay trở về nhẵn nhụi bê-tông, cửa ngõ cầu đưòng khang trang hoàn tất. Người đi đa phần nỗ lực làm ăn nên càng khấm khá, mát mặt lắm thay, ngả mũ chào cố hương đó.
Tất cả vì đâu? Phải chăng mưa lâu thấm đất, nhờ truyền thống giáo dục gia đình, hưởng sự dắt dìu của các chủ chăn, các con chiên đã hoàn toàn thuần hoá. Không những chỉ Cố Sơn, Cố Uyển, Cha giáo Hải, mà cả những vị tiền bối trước: Cha già Thăng, cha già Mục, cha già Báu… Các ngài liên lỷ hướng dẫn giáo dân trong xứ toàn tòng, những chân lý trong Kinh Thánh, những tri thức góp nhặt lại trải ra, những kinh nghiệm đời thường, đã tạo nên nhiều nỗ lực thành quả.
Chắc chắn một điều, trong niềm tin nơi Hội thánh thông công, các ngài ấy hằng cầu bầu cho chúng ta, xin Đấng toàn năng ban cho nhiều ân sủng, cả thể xác mong manh và linh hồn vĩnh cửu, càng thêm nguồn bảy ơn sức mạnh.
Tôi mở cuốn Kinh Thánh, sách Gioan đoạn 12 câu 24 chép rằng: “Thật Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”. Gấp sách lại tôi chìm trong nhận định nhỏ nhoi, nhưng quả là chính xác đến tuyệt vời.
Hạt giống ấy tuy rữa mục, nhưng đã trổ sinh đơm hoa kết trái, từ một xứ đạo khô khan nhếch nhác, nay đã sinh hoạt đạo đức rộn ràng, lại có lớp trẻ học hành thành đạt, một số cương quyết dấn thân, nam làm linh mục, nữ làm bà phước, tuy chưa nhiều nhưng là một tín hiệu phấn khởi, giáo dân không còn oán hờn nhau, tranh cạnh chi ly nhỏ nhặt, kẻ đi thương nhớ quê nhà, người ở ngóng trông chờ tao ngộ, nhiều phương trời mà tâm hồn quy về làm một. Đẹp thay!
Bùi Nghiệp



02 tháng 11 2013

THÁNG KỲ HỒN GẪM KINH “PHỤC DĨ”





I. TỰ BẠT:
Ngọn gió may đã về trên cánh đồng Cái Sắn, thời tiết chuyển sang mùa khô, nước bắt đầu rút sau đợt thủy cường tháng chín.

Hết tháng Rosa sang tháng cầu hồn, dân hiền nước lành cứ thanh thản bình an ngày tháng trôi theo tuần hoàn thời tiết, hòa nhịp sống đạo cùng lịch phụng vụ thường niên.

Thưở ấy, lũ chúng tôi còn “nhân chi sơ – sờ vú mẹ”, cắt rốn ngoài Bắc rồi theo bố mẹ vào Nam, khu định cư quây quần toàn dân Bùi Chu chính hiệu, dẫu chín người mười làng cũng cùng một tập tục như nhau, hoàn cảnh đắng cay có khác nhưng lại đồng phần số ngọt ngào, cả trăm nóc gia toàn tòng xum vầy vui sống.

17 tháng 10 2013

NHẬN ĐỊNH CA KHÚC





THỬ NHẬN ĐỊNH CA KHÚC
 LỜI CON KÊU KHẤN.

            Trước mặt tôi là ca khúc mang đề tựa: Kết Hợp, thơ Đỗ Xuân Quế, nhạc Tiến Dũng, bài thánh ca viết nhịp đơn 2/4, theo mô hình cấu trúc abac. Tác phẩm đơn sơ, điệp khúc 2 bè mà bè dưới viết lặp lại một phần theo dạng “đuổi” (cấp bộ phỏng tạo-cacendar), phiên khúc xướng thơ thể ngũ ngôn, tác phẩm được viết khỏang thập niên 60, cách nay trên 40 năm.
            Ngay từ buổi ban đầu của lịch sử phát triển thánh ca Việt Nam, học giả Phan Phát Huờn đã viết lời bạt, trong tập bài hát của nhạc sĩ LM Hoàng Diệp (tác giả bài : Kià Bà Nào), thế nào thì gọi là thánh ca? Thánh ca phải có 3 yếu tố : THÁNH - THẬT và CÔNG GIÁO, thiếu 3 yếu tố trên, thì không được sử dụng trong nhà thờ và các nơi cử hành nghi thức phụng tự ( ví dụ các bài: Tà áo đêm Noel, Lá thư trần thế v.v…)

25 tháng 9 2013

BẠN HỮU.





Sử nước Tàu ngày xưa có hai ông Quản Trọng và Bão Thúc Nha, ấu thời chơi với nhau thân lắm, tuổi tráng niên gặp thời binh lửa, hai hoàng tử tranh bá đồ vương, Trọng cùng Nha bèn ngóeo tay nhau thề mỗi người hết lòng phò tá một chúa, chúa của ai thắng thì sẽ đề bạt nhau, công tử Tiểu Bạch thắng công tử Củ, lên ngôi làm vua nước Tề. Bão Thúc Nha nhớ lời giao ước, tâu lên Tề Hòan Công tiến cử Quản Trọng, vua Tề có ý không dụng, quên sao được mũi tên Quản Trọng  súyt xơi mất thủ cấp năm xưa, nhưng vị nể Bão Thúc Nha năm lần bảy lượt thuyết phục, mới triệu vời Quản Trọng, về sau tể tướng Quản Trọng với tài kinh bang tế thế đã giúp vua Tề lập nên nghiệp bá hùng mạnh , uy trấn các nước chư hầu…

Đệ ưng nhất là Bão Thúc Nha, một nghĩa khí bằng hữu cao thượng quên mình, chơi với nhau thì khiêm nhường nhận phần thua thiệt, ra trận giữa lằn đạn mũi tên lại hăng hái đi đầu, lấy thân mình chở che cho bạn, mã đáo thành công rồi lại hết lòng tiến cử bạn lên tột đỉnh triều đình, thậm chí chẳng hờn ghen trước di ngôn của bạn, làm cho Quản Trọng phải thốt lên :
-“Sinh ra ta là cha mẹ, hiểu được ta chỉ có Bão tử”.

Tích xưa có hai chàng Lưu Bình và Dương Lễ, cùng đèn sách chờ ngày khoa cử, Dương lễ con nhà giầu có, mê chơi phóng túng chểnh mảng học hành, Lưu Bình thân phận nghèo túng quyết tâm dùi mài kinh sử, tất nhiên đến ngày thi, chỉ có Lưu Bình bảng vàng chói lọi, võng lọng vinh hiển làm quan, còn Dương Lễ trượt xôi hỏng bỏng không,  cùng đường phải đến dinh Lưu Bình nhờ vả, nghĩ tình bạn hữu xưa chắc chẳng tệ, ngờ đâu thói đời đen bạc, Lưu Bình bố thí cho bạn bát cơm với một qủa cà muối mặn, còn xỉ nhục dể duôi miệt thị, ra về mà nước mắt đầm đìa phẫn hận, may sao trong lúc quẫn cùng, giữa đường gặp của Giời cho, môt người con gái tên Châu Long, thẽ thọt tự nguyện theo về khuyên nên nuôi chí sách đèn, chờ ngày ứng thí, đêm đêm bên song nàng quay tơ dệt vải, chàng chong đèn kinh sử chuyên chăm , chờ thời cá chép vượt vũ môn… Ngày đã đến, qủa nhiên Dương Lễ xướng tên đầu bảng, được bổ nhậm làm quan to, về mái tranh xưa thì …lạ chửa, Châu Long đã dạt phương nào! Chợt nhớ người bạn “tán tận” ngày xưa, Dương Lễ tiền hô hậu ủng thẳng đến dinh Lưu Bình rửa hận, phen này sẽ cho anh “đểu”  biết thế nào là lễ độ…Lưu Bình ra vẻ ngây thơ , xun xoe gọi vợ ra chào tân quan nhớn. Rèm vừa hé, nàng Châu Long hiện ra như một phép màu! Ối Giời ơi! Ngã bổ chẩng cả ra đấy!...

Đệ phục sát đất cái anh Lưu Bình, dụng mưu xỉ nhục người bạn trót dại rong chơi, rồi âm thầm đưa nguyên một cô thiếp yêu dấu đến hầu, lam làm nuôi nấng khuyên lơn, ba năm  đằng đẵng chứ có ít chi, anh bạn Dương Lễ chắc trước đây đã tu mười kiếp. Đọan kết thật đẹp và có hậu, vô cùng hậu nữa là khác.

Chuyện trên là sử có thật, chuyện dưới thì chẳng rõ chân giả, tuy cả hai đều rất xửa rất xưa, nhưng bài học rút ra thật vô cùng trân qúy, sách Mạnh Tử viết: “Trách thiện bằng hữu chi đạo giả (trách khuyên bạn để làm điều thiện, đó là đạo người vậy). Bạn xưa là vậy, còn bạn ngày nay ra sao, để đến nỗi những người đi trước phải thốt lên: “Người xưa mặt thú dạ người, người nay mặt người dạ thú”.

Tào Tháo tay đại gian hùng thời Tam Quốc, một lần quân Đổng Trác truy lùng bán sống bán chết, trời tối trên đường bôn tẩu, vào nhà Lã Bá Xa vốn là người quen cũ, Lã Bá Xa thực lòng đón bạn, thân hành đi mua rượu và dặn dò gia nhân ở nhà mổ lợn đãi khách. Tháo lòng dạ bất an bị ám , nghe tiếng mài dao cùng lời nói lao xao của đám gia nhân nhà dưới, nào là trói nó lại - lấy dao - chọc tiết, Tháo hồn phi phách tán  tưởng bắt mình, dùng gươm giết cả nhà rồi phóng lên ngựa tẩu thóat, giữa đường gặp Lã Bá Xa hớn hở ôm vò rượu đi về, Tháo biết là mình lầm bèn nghĩ bụng, nếu Xa về nhà mà thấy cảnh tượng đó tất không ổn , nhất định tung tích sẽ bại lộ, bèn lén vung kiếm đàng sau giết nốt bạn hòng bảo tòan hành tung. Than ôi! Lã Bá Xa lòng dạ thẳng ngay, tòan gia phải chết thảm, gớm thay cho Tào A Man ác độc, đã biết nhầm lẫn còn đang tay cố tình giết bạn.

Trong các pho sách của Tàu, nói đến tình bằng hữu nhiều nhất, chắc không quyển nào đề cập nhiều bằng Thủy Hử, 108 tội phạm triều đình, từ quan nhớn bé đến lục lâm thảo khấu, đều tiết lên một khí phách trượng nghĩa, đề cao tình bằng hữu kết bôi, bức tranh lớn minh họa đầy vàng và máu, chết chóc và ách nạn, tham vọng và bất công, lại phủ lên lớp son dầy tình bạn.

Chuyện Tàu là thế, còn chuyện ta thì sao? Đệ xin thưa rằng: cũng phong phú ly kỳ đâu kém.
Sách ấu học có kể chuyện rằng:
Hai người bạn cùng đi trên một con đường, vừa đi vừa chuyện vãn thật tâm đắc, bỗng bên bìa rừng một con gấu phóng vụt ra lao thẳng đến, cả hai hỏang hốt bỏ chạy, một người nhanh chân leo lên được cành cây um tùm ẩn nấp, người còn lại sợ hãi ngã sấp bèn nhắm mắt giả chết, gấu đuổi kịp đến thấy người ấy nằm im bất động, bèn ngửi ngửi rồi bỏ đi. Khi gấu đã khuất trong rừng, người trên cây leo xuống thắc mắc hỏi bạn: “Gấu nói gì với anh vậy!”, người dưới đất trả lời: “Gấu nói với tôi, ai bỏ rơi bạn trong lúc khốn cùng, kẻ ấy thật không tốt!”.

Bỗng dưng, ai gặp trường hợp đột nhiên này mà không chết khiếp, câu trả lời trách móc hờn giận cũng không thuyết phục. Rõ ràng là phịa, nhưng nhìn về góc độ nghĩa bóng, lại là phịa bài bản mang tính giáo dục, dậy cho thiếu nhi lòng dũng cảm, chia sẻ gian nan với nhau trong lúc khốn cùng.

Thời tranh bá đồ vương giữa Nguyễn Tây Sơn và Gia Long Nguyễn Ánh có hai ông Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhiệm ( Ngô Thì Nhậm), cùng quê Hà Đông và là bạn học với nhau từ ngày để chỏm. Đặng Trần Thường thi đỗ sinh đồ thời Hậu Lê, ra làm quan theo trướng Gia Long, Ngô Thời Nhiệm thi đỗ tiến sĩ theo phò Tây Sơn, nhà Tây Sơn đến hồi suy vì, Gia Long tiến quân ra Bắc Hà tiêu diệt, Đặng Trần Thường lúc trước để bụng ghét ghen, vì cho rằng Nhiệm khinh mình kém tài, bèn lệnh bắt rồi ra câu đối như sau:
-         “Ai công hầu, ai khanh tướng, đường trần ai ai dễ hơn ai”.
Nhiệm ngẫm nghĩ đáp lại:
-         “Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thời phải thế”.
 Thường điên tiết sai lính trói và đánh Nhiệm bằng roi tẩm thuốc độc ngay trước cửa Quốc Tử Gíám. Nhiệm uất ức và thấm độc nên phải tử vong. Thương thay Ngô Thời Nhiệm, một quan văn đất Hà Đông, một chí sĩ tên tuổi, gặp bước cùng mạt lộ phải chết đớn đau dưới tay bạn đồng hương và đồng liêu cũ.

Buồn quá! Kết thúc chẳng có hậu, nhưng ai ơi lại là sự thật, Đặng Trần Thường cũng là một nho sinh cửa Khổng sân Trình, lẽ nào chẳng đọc Bão Thúc Nha tiến Quản Trọng trọng Đông Châu Liệt Quốc, lẽ nào không biết “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo…”, để cuối đời phải chết rũ tù dưới triều Minh Mạng, rõ nhơ thay mà cũng đáng thương thay!

Thời Pháp đô hộ nước ta, cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, mang cùng họ Phan nhưng không cùng huyết thống, đồng chí hướng nhưng khác chủ trương hành động. Cụ này lập phong trào Đông Du, cụ kia kêu gọi Tây Du, cả hai quyết lòng kỳ vọng cho thanh niên nước nhà học hỏi tinh túy hai cõi tòan cầu, để hậu duệ dùng tri thức cống hiến dân tộc, thóat nô lệ ngọai bang. Qúa trình họat động nay vào tù ra khám, mai đất khách quê người, thế mà  luôn khuyến khích chia sẻ lẫn nhau, nhớ nhau đến nỗi: “Tương tư lọ phải là trai gái, một ngọn đèn xanh trống điểm thùng!...”. Khi cụ Phan Chu Trinh thác, cũng là lúc cụ Phan Bội Châu được thả ra tù, câu đối viếng của Mai Đăng Đệ đã nói lên sự thương tiếc là ngần nào:
-“Nhất Phan tử khứ, nhất Phan sinh hòan, ta tai tổ quốc!
- Thiên cổ văn chương, thiên cổ tâm sự, thủy vi tiên sinh.
 (Một Phan chết đi, một Phan sống lại, than ôi tổ quốc! – Ngàn xưa văn chương, ngàn xưa tâm sự, ai là tiên sinh).
Đấy nhá! Tấm gương bằng hữu hai cụ đã cẩn thận lau chùi một đời dành cho hậu  thế, đẹp tuyệt!

Một nhà văn Tây nói rằng:
-“Có một lọai hoa hồng không có gai, đó là tình bằng hữu”.
 Tam tự kinh đề cập đến đạo bằng hữu trong thập nghĩa ( Quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu). Thiên tự văn cũng nhắc :”Giao hữu đầu phân – Thiết ma châm quy” (kết giao tin tưởng – bàn luận khuyên lơn). Sách Minh Tâm Bảo Giám còn dành nguyên cả một thiên thứ 19 nói vế bằng hữu, bao năm trôi qua luôn là khuôn vàng thước ngọc cho hậu thế. Trên đời này ai là người không có bạn, đi buôn có bạn, đi bán có phường…

Thói đời đa phần khi hàn vi bạn bè thường có nhau, nhưng khi phú qúy lại hay quên lãng, cho nên ông Tống Hòang nhủ rằng:
-“Bần tiện chi giao bất khả vong”
(bạn bè khi nghèo nàn không nên vội quên ).
Tiền tài danh vọng không bao giờ mua được bạn chân thành, có chăng chỉ nước đục thả câu, có chăng chỉ  a dua xu nịnh “Còn bạc còn tiền còn đệ tử, hết cơm hết rượu hết ông tôi”, vĩnh viễn không bao giờ có tri kỷ.

Đừng như Tào Tháo, đừng theo Đặng Trần Thường, hãy giống Bão Thúc Nha, hãy noi gương hai cụ Phan nước nhà mà tiến bước.

Bùi Nghiệp

11 tháng 9 2013

Đến với chân lý tối cao

Con người luôn khao khát tìm hiểu để biết rõ sự thực về vũ trụ và con người. Từ các câu chuyện thần thoại đơn giản cho đến các tôn giáo, các thuyết khoa học, đều là những nỗ lực đưa ra một bức tranh đầy đủ về thế giới và cuộc sống. Tuy thế, cuộc sống và thế giới vẫn là một bí ẩn, vì những gì chúng ta biết, nói theo nhà bác học Newton, chỉ là một hạt cát trong bãi biển mênh mông.

Thế nhưng chúng ta luôn sống dưới sự tác động của chân lý tối cao mặc dù chúng ta không biết đó là cái gì. Mấy ngàn năm trước người ta vẫn chịu sự chi phối của lực hút trái đất, bị tác động của tia tử ngoại, mặc dù người ta không hề biết những điều này.

Nói như thế, dù niềm tin có khác nhau, và ngay cả khi không có niềm tin, mọi người cũng đều sống chung trong một sự thật, một quy luật tối cao, vì niềm tin không thay đổi chân lý. Không phải tin khác đi thì chân lý sẽ khác đi.

Nói như thế, giá trị của một niềm tin (hay không tin) nằm ỏ chỗ niềm tin đó gần với chân lý tối cao bao nhiêu.

Thế nên trong Kinh thánh có nói đến những chuyện ngạc nhiên: người ta từ đông tây nam bắc sẽ vào nước Chúa và những người theo Chúa có khi lại không được vào; có chuyện những người đứng chót sẽ lên đứng đầu; và có chuyện có người được Chúa mời vào Thiên đàng nhưng rất ngạc nhiên nói rằng họ có làm gì cho Chúa đâu và Chúa nói: khi họ làm điều này điều kia cho bất kỳ ai, Chúa kể như làm cho Chúa.

Thế nên mục tiêu của con người là làm cách nào để đến gần chân lý. Nếu đến bằng con đường suy luận, e rằng rất khó. Có một cách dễ hơn đó là quan sát kết quả. Mấy ngàn năm trước con người không biết luật vạn vật hấp dẫn nhưng đã ứng dụng nó chẳng thua kém gì con người ngày nay: họ biết vật nặng vật nhẹ, họ biết sợ té ngã. Họ không biết luật hấp dẫn nhưng họ quan sát hiệu ứng của nó mà điều chỉnh.

Một cách tương tự, con người không biết chân lý tối cao là gì, nhưng luôn sống dưới sự tác động của chân lý tối cao, nên nếu để ý hiệu ứng nó để lại trong cuộc sống của bao người, chúng ta có thể biết cách đến gần chân lý. Hay như trong trò chơi dò mục tiêu, một người bị bịt mắt và đi theo tiếng vỗ tay. Người khác vỗ tay lớn khi người này đi về hướng mục điêu và vỗ tay nhỏ khi người này đi xa. Nhờ đó người này có thể đi đến mục tiêu nhờ hiệu ứng vỗ tay.

Cũng vậy, cả tỷ con người đi trước chúng ta và bao nhiêu hiệu ứng khác nhau họ để lại. Dựa vào những hiệu ứng ấy chúng ta có thể dò tìm chân lý tối cao nằm ỏ đâu để ngày một đến gần hơn. Điều quan trọng là chân lý tối cao không thể nắm bắt bằng lý trí phân tích trực tiếp; chân lý ấy chỉ có thể được tìm đến qua hiệu ứng nó để lại.

Vũ Uyên Thi

14 tháng 8 2013

CHA GIÁO HẢI




     

Tên đầy đủ của ngài là Vi-xen-tê Đặng xuân Hải. Sinh năm 1937, thụ phong linh mục từ 1963.
     Ngài đã coi sóc hai xứ Ngọc Thạch - phố Kênh B, và Ninh Cù- kênh Rivra, có một thời gian ngắn  làm quản lý tiểu chủng viện Tê-rê-sa Long Xuyên và Thánh Phụng Châu Đốc. Vì thế nên giáo dân cứ gọi ngài là cha giáo, xem ra ngài cũng thích cái tên này lắm, vừa thân thương, bình dị  lại vui nữa .
     Cuối năm 1975  được Cố Sơn bảo lãnh với nhà nước, và Tòa GM Long xuyên đồng ý cho về làm phụ tá, đồng thời cai quản họ đạo Thánh Mẫu, ở vào độ tuổi chưa đến bốn mươi.
     Họ đạo Thánh Mẫu nằm ở cuối kênh, giáp ranh Núi Sập, gồm 2 giáp Đồng Thịnh và Đồng Vượng, dân cư làm nhà hai bên bờ kênh chủ yếu nông nghiệp.
Với tuổi trung niên vui vẻ năng động và đầy nhiệt huyết, sáng chiều trẻ già được mời gọi đi đến giáo đường, vui với lời kinh tiếng hát, quên đi cái vất vả lam lũ đời thường, sinh hoạt đoàn thể xích lại gần, nhận hơi ấm yêu thương từ nhau, qua lời Chúa là kinh nhật khóa có sức an ủi sớt chia, lan dần nhuộm thấm hàng trăm con chiên từ nay có chủ.
     Phục tùng, vâng lời và đạo đức, là ba điều chủ yếu trong hành xử , ngài luôn coi và kính trọng cố Sơn, như một quyền huynh thế phụ, thể hiện sự vâng lời tuyệt đối, bày tỏ lòng biết ơn bằng công việc, hơn 30 năm quản lý một họ đạo bé nhỏ, ngài luôn lắng nghe và thi hành sứ vụ với tất cả phục tùng đầy tin tưởng.
     Rất đạo đức trong đời sống tinh thần sinh hoạt tâm linh, đạo đức đến độ có vẻ nghiêm khắc, ngài thường đem gia đình mình làm một ví dụ, câu chuyện” thằng Hà, cái Hỡi” xa xưa cứ đem ra kể, như là giãi bày tín hiệu đạo đức gia đình phát xuất từ cha mẹ, có người xì xèo bình phẩm về cái chữ tôi. Thực bụng ngài muốn hướng dẫn điều giáo dục gia đình, phài xuất phát từ gốc, chứ đâu khoe mẽ gì gia phong tộc họ.
Ngài xây dựng đi vào nề nếp các hội đoàn trong họ đạo bé nhỏ, thiếu nhi – bà mẹ - gia trưởng – ca đoàn … Sinh hoại thường nhật trật tự nhịp nhàng. Nghe đồn ngài khá dồi dào tài chánh, nhưng tôi chỉ thấy những năm đầu mới về, chỉ duy trên chiếc xe đạp ngày ngày từ Đồng Công vào Thánh Mẫu làm công việc mục vụ, rất đơn sơ và bình đẳng chào hỏi rộn ràng .
     Tôi viết lên đây để gợi ý với các đồng hương, ai đó viết về ngài nhiều hơn, vì sau 1980 tôi đã tha hương không còn ở quê nhà thân mến nữa, với 5 năm vắn vỏi tiếp xúc, lại không phải giáo dân ngài nữa, chỉ là tri ngộ giữa hai tâm hồn đồng cảm, trao đổi chút tâm tư nặng nề, sớm oằn gánh những oan khuất cuộc đời.
Thời gian cuối đời ngài mang một chứng bệnh trầm kha, ngày 28.9.2006 ngài thanh thản đi về quê vĩnh cửu qua 69 tuổi trần gian. Trong năm này giáo xứ Đồng Công phải thọ hai tang lớn, Cố Sơn và cha giáo Hải,  hai linh mục rất đỗi yêu thương từ giã con chiên về Thiên quốc, chắc chắn trên quê Trời, ngài hằng cầu nguyện và xin ơn  từ Đấng Chí tôn, phù hộ ban ân sủng thiêng liêng nhiều đến giáo dân họ Thánh Mẫu cách riêng và cả giáo xứ Đồng Công.
     Mộ phần ngài được an táng trong khuôn viên nhà thờ, chắc hẳn vẫn ngày ngày nghe bước chân các con chiên thế hệ tiếp nối, rộn ràng đến giáo đường dâng lời kinh tiếng hát, đứng nhìn di ảnh ngài thắp nén hương lòng, người già hồi ức lại bao kỷ niệm, và người trẻ ngưỡng mộ một tiền nhân, 30 năm tâm huyết cho một vùng quê ngày thêm vươn trù phú.

Lạy Chúa! Xin ban cho linh hồn cha giáo Vinh Sơn được hưởng ánh sáng ngàn thu.. Amen.

Bùi Nghiệp
 
PHẦN MỘ CHA GIÁO HẢI TẠI KHUÔN VIÊN NT THÁNH MẨU

12 tháng 7 2013

LẬN ĐẬN CON CHỮ (1)




Ấy là vào thời điểm trước năm 1960.
Không hiểu các xứ khác ra sao, chứ xứ tớ trước thập niên 60, học trò đi nhặt con chữ thật lao đao.
Hồi ấy mới định cư vùng Cái Sắn,  Kênh F2 chia làm 2 khu, Khu 2 và Khu 3, các học trò giờ đây một số đã về thiên cổ, bé tẹo như tớ cũng quá tuổi 60. Không có trường học, nên việc giáo dục toàn là tự phát. Này nhá! Khu 2 có ông giáo Sự, ông giáo Chưởng, Khu 3 có ông giáo Tuynh rồi ông giáo Ứng, các vị này chỉ dậy khai trí vỡ lòng, mở lớp tại nhà và thù lao học phí thì đóng bằng tiền hoặc lúa gạo, quá lớp ba lớp nhì lại được chuyển sang Kênh G học trường tiểu học Long Bình để “dọn mình” đi thi tiểu học.
“Thứ nhất hay chữ thứ nhì dữ đòn”, là phương châm nghể giáo thời đó, roi tre, cây muống rừng, thước kẻ là “côn trượng” răn đe học trò làm biếng, lòng bàn tay, đôi mông đít là bia để nhận những hình phạt, còn bắt quỳ gối, giang tay chỉ là chuyện nhỏ. Phạt mà không trừng, cốt để chúng tớ đi vào khuôn phép, không chểnh mảng sự học. Chúng tớ thì ngoan ngoãn chấp nhận, hơn 50 năm qua rồi, giờ đây chưa nghe một ai buồn hận về cái sự giáo dục lỗi thời mà dở hơi ấy, tớ là học trò bé nhất, nhưng có người đã là thanh niên thiếu nữ, chuẩn bị lập gia đình, có sao đâu? Con chữ thật quan trọng. Phụ huynh đưa con em đến trình thầy luôn dặn một câu thòng: “Xin ông giáo cứ sửa dậy cháu nhiều vào, cháu to xác vậy đấy, nhưng còn ngu si đần độn lắm!...”
Chuyện quần áo đồng phục, quên đi nhá, học trò con gái hơi bị hiếm, còn con giai thì quần đùi áo bà ba, đi chân đất mốc cời bụi băm, ghét gúa đóng tầng, móng tay đội khăn xếp đủ mười, mực tím dây đầy lem nhem da thịt, có anh còn thò lò mũi xanh, hậu quả tất nhiên của sự dinh dưỡng bằng cua rốc – cà ghém, khụt khịt quệt mũi bằng ống tay áo, thế nên vải nơi ấy được đắp chồng lên lớp nhựa dẻo bóng nhẫy, ngược lại với đầu tóc cúp ca-rê đàng hoàng lịch sự.
Cái mộng khoa bảng thật vô cùng vĩ đại, không rõ ông giáo nào  đã có bằng :Đít lôm” chưa, chứ chúng tớ ai lên Thốt Nốt thi, mà lấy được chứng chỉ tiểu học thôi, là cà gia đình thật danh giá hãnh diện, đôi khi còn mổ lợn đãi hàng xóm ăn mừng nữa là khác. Bởi vậy chúng tớ cố công ghì mài kinh sử, chấp hành roi vọt đáng yêu để nên người, quá thập niên 60, số lượng học trò thi đậu tiểu học đã lên khơ khớ.
Tớ lại kể tiếp về số du học sinh sang xứ người tìm con chữ. Kênh G chỉ cách đó một quãng đồng chiều ngang 1.500 mét, giữa cánh đồng là bãi tha ma mộ địa, ai đi ngang qua phải đọc một kinh vực sâu cầu cho các linh hồn, vừa đọc vừa nhắm mắt rảo bước cho nhanh, thậm chí còn chạy kẻo ma hiện lên quấy nhiễu, bản hòa tấu rộn ràng giữa hơi thở - nhịp tim cùng gót chân cuống quýt, mồ hôi vã ra trên khuôn mặt tái xanh chết khiếp, ma cỏ gì đâu, chỉ là thần hồn nhát thần tính.
Mùa khô thì lội bộ tắt đồng, ruộng lúa mùa đốt chờ cày còn đọng tro than, hai ống quyển bám đầy tro bụi, mùa nước nổi lại chống xuồng đi học, sáng sáng í ơi gọi nhau thật vui tai. Ở đó tổ chức giáo dục có vẻ quy mô hơn, người cầm càng chính là cha cố Luyến, mỗi lớp có một thầy chịu trách nhiệm toàn bộ, này tớ xin kể: lớp tư cô Vân, lớp ba thầy già Khoan, lớp nhì ông giáo Bang, lớp nhất B ông giáo Định và lớp nhất A ông giáo Thắng. ThầyThắng này chịu trách nhiệm dẫn thí sinh lên quận thi tốt nghiệp tiểu học.
Ngày đi thi ăn mặc chững chạc sạch sẽ, ghe máy chở ra đầu kênh và lên xe đò ngủ đậu nhà thờ Bò Ót, lần đầu lên quận học trò nào cũng lơ ngơ như quạ vào chuồng lợn, ngày thi cũng nhận phiếu báo danh và xướng tên mạch lạc, ngoài những môn thi theo chương trình giáo dục thời đó, còn có môn thi vấn đáp và hát, ai không hát được thì đọc một bài thơ tùy ý, có anh hát cả bài “Mừng Đức Bà” làm giám khảo trợn mắt ngạc nhiên, nhưng rồi cũng cười xuề xòa xí xái cho qua. Đi thi về mặc sức tắm sông cho bõ lúc kinh sử gian nan, chờ 2 tuần sau đón kết quả vinh quy, bố mẹ thì bồn chồn nghe ngóng đợi chờ.
Ấy cái con chữ nó quý hóa như vậy, đã quá xa rồi những ngày đó, tớ biết chắc rằng trong chất chồng năm tháng, những học trò ngày xưa giờ đây đã quy Thiên hoặcthành ông cụ, trong ngăn ký ức mình vẫn còn lưu giữ những kỷ niệm không quên thuở thiếu thời… Bây giờ con cháu họ, cử nhân- đại học là chuyện xoàng xĩnh, giới trẻ có biết đâu cha ông họ, đi tìm kiếm con chữ gian nan cơ cực dường nào, nhưng lại là tiền đề biết đúng nghĩa hai chữ tề gia…
Rảnh rang chút, tớ chẳng phét rống nhưng sẽ kể về con chữ của các du sinh trung học trong Núi sập, Kênh D, Kênh B sau thập niên 60 hầu các người trẻ đọc,  và các bạn già tớ ôn lại kỷ niệm.
Bùi Nghiệp