Trang

Nhãn

14 tháng 8 2013

CHA GIÁO HẢI




     

Tên đầy đủ của ngài là Vi-xen-tê Đặng xuân Hải. Sinh năm 1937, thụ phong linh mục từ 1963.
     Ngài đã coi sóc hai xứ Ngọc Thạch - phố Kênh B, và Ninh Cù- kênh Rivra, có một thời gian ngắn  làm quản lý tiểu chủng viện Tê-rê-sa Long Xuyên và Thánh Phụng Châu Đốc. Vì thế nên giáo dân cứ gọi ngài là cha giáo, xem ra ngài cũng thích cái tên này lắm, vừa thân thương, bình dị  lại vui nữa .
     Cuối năm 1975  được Cố Sơn bảo lãnh với nhà nước, và Tòa GM Long xuyên đồng ý cho về làm phụ tá, đồng thời cai quản họ đạo Thánh Mẫu, ở vào độ tuổi chưa đến bốn mươi.
     Họ đạo Thánh Mẫu nằm ở cuối kênh, giáp ranh Núi Sập, gồm 2 giáp Đồng Thịnh và Đồng Vượng, dân cư làm nhà hai bên bờ kênh chủ yếu nông nghiệp.
Với tuổi trung niên vui vẻ năng động và đầy nhiệt huyết, sáng chiều trẻ già được mời gọi đi đến giáo đường, vui với lời kinh tiếng hát, quên đi cái vất vả lam lũ đời thường, sinh hoạt đoàn thể xích lại gần, nhận hơi ấm yêu thương từ nhau, qua lời Chúa là kinh nhật khóa có sức an ủi sớt chia, lan dần nhuộm thấm hàng trăm con chiên từ nay có chủ.
     Phục tùng, vâng lời và đạo đức, là ba điều chủ yếu trong hành xử , ngài luôn coi và kính trọng cố Sơn, như một quyền huynh thế phụ, thể hiện sự vâng lời tuyệt đối, bày tỏ lòng biết ơn bằng công việc, hơn 30 năm quản lý một họ đạo bé nhỏ, ngài luôn lắng nghe và thi hành sứ vụ với tất cả phục tùng đầy tin tưởng.
     Rất đạo đức trong đời sống tinh thần sinh hoạt tâm linh, đạo đức đến độ có vẻ nghiêm khắc, ngài thường đem gia đình mình làm một ví dụ, câu chuyện” thằng Hà, cái Hỡi” xa xưa cứ đem ra kể, như là giãi bày tín hiệu đạo đức gia đình phát xuất từ cha mẹ, có người xì xèo bình phẩm về cái chữ tôi. Thực bụng ngài muốn hướng dẫn điều giáo dục gia đình, phài xuất phát từ gốc, chứ đâu khoe mẽ gì gia phong tộc họ.
Ngài xây dựng đi vào nề nếp các hội đoàn trong họ đạo bé nhỏ, thiếu nhi – bà mẹ - gia trưởng – ca đoàn … Sinh hoại thường nhật trật tự nhịp nhàng. Nghe đồn ngài khá dồi dào tài chánh, nhưng tôi chỉ thấy những năm đầu mới về, chỉ duy trên chiếc xe đạp ngày ngày từ Đồng Công vào Thánh Mẫu làm công việc mục vụ, rất đơn sơ và bình đẳng chào hỏi rộn ràng .
     Tôi viết lên đây để gợi ý với các đồng hương, ai đó viết về ngài nhiều hơn, vì sau 1980 tôi đã tha hương không còn ở quê nhà thân mến nữa, với 5 năm vắn vỏi tiếp xúc, lại không phải giáo dân ngài nữa, chỉ là tri ngộ giữa hai tâm hồn đồng cảm, trao đổi chút tâm tư nặng nề, sớm oằn gánh những oan khuất cuộc đời.
Thời gian cuối đời ngài mang một chứng bệnh trầm kha, ngày 28.9.2006 ngài thanh thản đi về quê vĩnh cửu qua 69 tuổi trần gian. Trong năm này giáo xứ Đồng Công phải thọ hai tang lớn, Cố Sơn và cha giáo Hải,  hai linh mục rất đỗi yêu thương từ giã con chiên về Thiên quốc, chắc chắn trên quê Trời, ngài hằng cầu nguyện và xin ơn  từ Đấng Chí tôn, phù hộ ban ân sủng thiêng liêng nhiều đến giáo dân họ Thánh Mẫu cách riêng và cả giáo xứ Đồng Công.
     Mộ phần ngài được an táng trong khuôn viên nhà thờ, chắc hẳn vẫn ngày ngày nghe bước chân các con chiên thế hệ tiếp nối, rộn ràng đến giáo đường dâng lời kinh tiếng hát, đứng nhìn di ảnh ngài thắp nén hương lòng, người già hồi ức lại bao kỷ niệm, và người trẻ ngưỡng mộ một tiền nhân, 30 năm tâm huyết cho một vùng quê ngày thêm vươn trù phú.

Lạy Chúa! Xin ban cho linh hồn cha giáo Vinh Sơn được hưởng ánh sáng ngàn thu.. Amen.

Bùi Nghiệp
 
PHẦN MỘ CHA GIÁO HẢI TẠI KHUÔN VIÊN NT THÁNH MẨU

13 tháng 8 2013

PHÙ VÂN PHÚ



SÁCH KINH THÁNH – Phần dẫn nhập cựu ước – Mục 10 (d) Sách Giảng Viên, trang 23.
Tác giả suy tư khắc khoải về ý nghĩa cuộc sống, tất cả là phù vân. Vậy thì sống để làm gì? Sau cuộc sống này còn gì tồn tại? Phản kháng những quan niệm cũ về thưởng phạt (như sách Gióp) nhưng cũng không đưa ra được giải đáp nào hơn là sự khiêm tốn vâng phục Thiên Chúa và tinh thần “thoát tục” nỗi khắc khoải này chúa Giê Su sẽ trả lời dứt khoát…


Càn khôn luân chuyển;
Vũ trụ tuần hoàn.
Nhất sinh bào ảnh;
Vạn thế phù vân!

Nhìn nước chảy một chiều cao xuống thấp;
Ngắm gió xoay tứ hướng bắc rồi nam.
Điều đang có rồi ra sẽ có;
Chuyện đã làm tất cũng phải làm.
Khổ đau lắm vì chưng đa hiểu biết;
Phiền muộn nhiều bởi lẽ lắm khôn ngoan.

Kìa ai:
Thâu gom ngà ngọc;
Tích cóp bạc vàng.
Nhất hô thiên ứng;
Duy lệnh bá cung.

Gác tía lầu son, đất đai cuồng chân ngựa chạy, dinh kho chục đội quân canh,  Ngoài ngõ lao xao kẻ đưa người đón;
Nhà cao cửa rộng, đồng ruộng thẳng cánh cò bay, chuồng trại trăm đàn gia súc, trong nhà nườm nượp đầy tớ gia nhân.
Sáo lộng tiêu hòa, rộn rã sân rồng cổng phượng;
Ăn sung mặc sướng, nghỉ ngơi gối gấm màn loan.

Hay chăng?
Ảo ảnh ảo ảnh y ảo ảnh!
Phù vân phù vân tất phù vân!
Một thời sinh tử - khóc cười – yêu ghét;
Mấy cuộc gieo trồng - hòa chiến - lượm quăng?

Lợi lộc chứ kẻ bo bo giữ của?
Vẻ vang gì người chằm chặp ôm danh? 
Đứa khờ khạo ngây ngô, sự nhung nhớ đâu hằn dấu tích;
Người tài cao trí thượng, điều lãng quên mất vết thời gian.

Chẳng giữ được lại ra công tốn sức;
Không lưu tồn sao tổn trí hao tâm?
Dưới vầng dương, là bóng ngựa qua khe sớm biến;
Trên mặt đất, chỉ dã tràng xe cát mau tan.

Hăm he thả mồi bắt bóng;
Công cốc giật quýt dành cam.
Biển bốc hơi thì bay lên tụ hợp;
Mây đầy nước lại đổ xuống tràn lan.

Vậy nên:
Trừ khử đớn đau ngoài xác;
Đẩy lui phiền muộn nội tâm.
Chuỗi tuổi già đằng đẵng dài lâu, đừng não nề khi đã xế;
Đời thanh trẻ vụt qua thoáng chốc, Cứ vui hưởng lúc còn xuân.
Công trình bởi Chúa tạo, chẳng biết lúc nào, vậy sáng sáng cần đi gieo chăm chỉ;
Thành quả do Trời ban, nào hay thời điểm, nên chiều chiều cứ đứng cấy chuyên cần.

Lục lọi chút bạc tiền, đôi ba người hãy giúp;
Sớt chia niêu cơm bánh, vài bốn kẻ cùng ăn.
Chớ chờ lúc cuối cùng gõ cửa;
Đừng đợi khi kết thúc sang thăm.
Còn chi nữa lúc mặt trời mờ ánh sáng;
Có gì chăng  khi tinh tú lặn tối tăm.
         
Vì ngày ấy: 
Thiếu nữ tinh anh, giờ đã run tay mờ mắt;
Chàng trai vạm vỡ, nay thành khụy gối sụm chân.
Đường sinh bỗng nhiên khép lối;
Cửa tử thoáng chốc mở toang. 
Tất cả đâu tồn tại;
Mọi điều sẽ lặng câm.     
Ảo ảnh -  ảo ảnh!
Phù vân – phù vân!
………..
Lạy chúa Trời! Xin đổ mưa thiêng quyền phép!
Tâu Thượng đế! Hãy ban gió thánh chí nhân…

Bùi Nghiệp
         



10 tháng 8 2013

NÚI SẬP PHÚ.

Viết về giáo xứ Núi Sập, địa phận Long Xuyên
(Thân tặng bạn học: Benedicto Bùi Đức Hiền, LM quản sở)

Vui thay Núi Sập!

Vui thay Núi Sập!

Xe cộ xôn xao,

Ghe thuyền tấp nập.

Đảo hoa cương trên biển lúa dạt dào,
Đồi thổ báu giữa bình nguyên trù mật.
Sắc lục lam in bóng điểm đường mây,
Màu tử ngọc vẽ hình tô cổ tháp.

Ngắm hướng đông nam – Cái Sắn vỗ về!
Trông phương Tây Bắc – Ba Thê ôm ấp.
Bởi nhân kiệt địa linh, khí thiêng sông núi đắp bồi!
Do đất lành chim đậu, thiên hạ tứ phương hòa nhập!

Khách thương hồ xuôi ngược hôm sớm râm ran,
Người bản xứ đi về sáng chiều lũ lượt.
Sông Thoại Giang, cà dom – xuồng lường – tam bản lượn lờ.
Dòng Vĩnh Tế, tắc ráng, tàu thủy – ghe chành nhộn nhịp.

Trên núi bóng cả cây cao,
Dưới thung bờ xôi ruộng mật.
Chốn thị tứ, dân Hoa – dân Ấn bán bán buôn buôn,
Ven ngoại biên, người Thái, người Miên đặt lờ đặt nọp.
Dân bản xứ cặm câu giăng lưới , nhậu nhẹt ngày ngày,
Kẻ di cư thả cá đào ao, thêm nguồn thu nhập.

Ban sáng:
Mới thấy máy khoan đá  xình xịch, thủng thỉnh gài mìn.
Đã nghe còi báo hú toe toe, vội vàng ẩn nấp.
Trên triền núi, đoàn phu đá khòm lưng, xoạc cẳng đẩy xe rùa.
Dưới bến sông, đội bốc chành ngảnh cổ, gò vai khuân đôi sọt.

Chiều hôm:
Gái dạo quanh tha thướt, rúc rích rúc ra.
Trai dìu dặt chỉnh tề, tươm ta tươm tất.
Quầy ven núi hàng hàng khô sặt gỏi bò.
Tiệm bờ sông lớp lớp la de rượu thuốc.

Dưới xuồng ba lá, đèn bánh ú lập lòe.
Trên quán một gian, ánh măng sông sáng quắc.
Khúc nam ai, song lan nhịp nhịp bồi hồi!
Câu vọng cỗ, lục huyền rưng rưng não nuột!

Nhớ xưa:
Đường cát sỏi, vòng vèo chân núi uốn quanh.
Lối hang dơi, thăm thẳm gió reo chóng mặt.
Ngoài đền cụ Thoại, mái cong bốn hướng nam bắc tây đông.
Trong điện Ngọc Hầu, giàn bệ tứ linh long ly quy hạc.

Ngày Tống Gió, bát âm kèn trống mở hội Xiên lình.
Bữa Lên Đồng, phèng mõ thanh la xuất hồn nhập cốt.
Chùa Địa Tạng, Phật tổ - Phật bà sừng sững, buổi buổi nghi ngút khói nhang.
Miếu cô hồn, bóng ma - bóng quế lượn lờ, đêm đêm cù bơ cù bất.

Am cô Sáu sớm mai, ni nữ chày nện điểm kinh.
Miễu ông Tà chiều tối, tăng nam mõ khua lốc cốc.
Chốn bán buôn, giầu có lao xao!
Nơi ngoại ải, nghèo nàn xơ xác.

Thuở ấy:
Dân trí chửa cao.
Học trình còn thấp

Nhà cửa tềnh toàng, hôm nay chẳng biết ngày mai
Học đường hiu quạnh, mảng chơi không màng học tập
Cha lông bông úp nơm, bắt rắn, nhậu nhẹt thả giàn,
Mẹ lởn vởn tứ sắc, số đề, nợ nần ngập mặt.

Dăm bảy nóc nhà đạo gốc Gia Tô.
Vài trăm mái lá chẳng Tiên chẳng Phật.
Nhà thờ vắng bóng chủ chăn.
Xóm đạo nép mình ngượng ngập.
Ruộng thế trần, bát ngát thỏa no,
Đồng truyền giáo, xác xơ đói khát.

Mà  nay:
Năm mươi năm nhân thế đổi thay,
Nửa thế kỷ thời gian thấm thoát.
Sông Thoại giang, có ngư phủ chài người.
Đất Huệ Đức, được nông gia chuyên gặt.

Gieo thông điệp hồng, làm nhân chứng Đức Ki-Tô
Thấm dòng máu đỏ, Tử Đạo anh hùng son sắt
Tháp cao vọng tiếng chuông ngân.
Thánh đường vang ca khúc hát.
Núi Sập! Núi Sập!
Thật vui! Vui thật!!!

Bùi  Nghiệp
(Lễ Vượt Qua – 2006)

09 tháng 8 2013

PHẦN MỘ BÀ ANNA NGUYỄN THỊ LUYỆN

CỤ BÀ ANNA NGUYỄN THỊ LUYỆN (MẾN)
 Sinh năm 1915, tại Phú An, Bùi Chu
1956-2002 sống tại Kinh F2, GX Đồng Công, ĐP Long Xuyên
2002-2013 Sống tại P.Tân Quý, Q.Tân Phú TPHCM
Từ trần: 08.8.2013 - Hưởng thọ 98 tuổi
Hỏa táng: 13.8.2013


02 tháng 8 2013

GIỌT SẦU BI.



Không đến được La Vang,
Trà Kiệu, Tà Pao… hay đâu đâu nữa!
Tôi cũng biết Đức Bà của tôi lệ ứa.
Hai mươi thế kỷ sóng sánh giọt sầu.
Khi con người một lũ cứng đầu:
Kiêu căng - ngạo mạn – tham tàn - bạc ác.
Lòng dạ hổ mang – tự tung tự tác.
Địa ngục cận kề - Thiên quốc vợi xa.
Quả đất này tăng vọt… vạn Sô-đô-ma!

Chúng ta đòi ư! Một phép lạ?
Đã có rồi, sao lòng chai hơn đá?
Từ Lộ Đức đến Pha-ti-ma,
Lượng bao dung đổ xuống như mưa sa,
Sao không chịu ăn năn thống hối?
Sao không chịu quay về nguồn cội?
Sao không chịu thức tỉnh mê lầm?
Đòi chi nữa? Loài giả điếc giả câm!!!

Chúng ta đòi ư! Một phép lạ?
Loài vong ân thách thức chi tạo hóa!
Đừng hoài mơ, đừng huyễn tưởng cạn nông!
Đã có lời hằng sống từ thuở hồng mông,
Đã có thánh nhân từ hai mươi thế kỷ.
Đã có máu đào bao chứng nhân chung thủy,
Đã có Hội Thánh bền bỉ trường tồn.
Đòi chi nữa loài chồn cáo ranh khôn?

Tôi biết  lắm,
Đức Bà của tôi luôn khóc!
Hạt tinh tuyền rơi rơi thánh thót,
Cho chút lương tri sót lại trong tôi.
Bởi a dua theo bè lũ rất tồi,
Tôi đánh mất cả thiện căn thiên phú.
Tôi đã hóa thân tôi thành qủy dữ,
Thờ lạy gian trần - Tiền bạc hôi tanh.
Đạp đổ hoà bình - Gầy cuộc chiến tranh.
Ngồi chỗm chuệ trên ngai vàng bằng cát.
Ôi hỡi tôi ơi, loài đốn mạt!

Lạy Đức Bà!
Là chúa bầu tôi!
Giọt sầu bi thổn thức bồi hồi.
Là ngọc điện lâu đài cho tôi nương náu,
Là châu sa cực trọng vô cùng châu báu.
Hãy vớt tôi lên tôi sặc sụa linh hồn,
Hãy vớt tôi lên tôi chết đuối trầm luân.

Đừng khóc nữa Bà ơi! Tôi biết tội!
Dòng ngọc tuyền ơi! Chờ tôi về nguồn cội!

                                                   Bùi Nghiệp.

29 tháng 7 2013

PHẦN MỘ BÀ MARIA BÙI THỊ HỢI


PHẦN MỘ CỤ BÀ: MARIA BÙI THỊ HỢI
1957-1960 Sống tại Kênh F2, Xứ Châu Sơn (tên cũ của GX Đồng Công)
1960 -2013 Sống tại Khu Ông Tạ, Quận Tân Bình, TPHCM
Từ trần 24.7.2013 - Hưởng thọ 78 tuổi
An táng tại Nghĩa trang GX Châu Nam, Huyện Hóc Môn